Thiền (zen, meditation), tên đầy đủ là Thiền-na, là chữ được phiên âm từ chữ dhyāna trong tiếng Phạn. Dhyāna là danh từ được Sanskrit-English Dictionary của Monier-Williams ghi lại những nghĩa chính như sau: to think of, imagine, contemplate, meditate on, call to mind, recollect.
Những ai có tu tập thiền, hoặc đọc thiền đều hiểu Thiền là sự suy tư, sự tập trung, là quán sát trong tỉnh lặng, Đây là một thuật ngữ được nhiều tôn giáo xử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là: Đạt kinh nghiệm "Tỉnh giác", "Giải thoát", "Giác ngộ". Trong những pháp tu tập mà ở đó người thực hành tự đạt đến một kinh nghiệm về tỉnh giác, và không để ý đến những hình thức bên ngoài của tôn giáo, có thể gọi là "bí truyền" (Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự) các vị tiền nhân đã nghiên cứu và phát triển những con đường khác nhau thích hợp với cá tính, căn cơ của từng người để đạt đến kinh nghiệm quý báu nói trên.
Điểm chung của tất cả các pháp tu tập Thiền là hướng dẫn con người tu tập đến một trạng thái tập trung, lắng đọng, bình yên…để nhận ra “tự tánh” của vạn vật. Tuy nhiên, cũng có những pháp tu thiền đưa con người đến những trạng thái như “xuất hồn”, mở “luân xa”, và có “thần thông”, hoặc trị bịnh…v.v.
Tại Việt nam trước năm 1975 – và ngay tại San Jose hiện nay - có những “môn phái” tụ thiền khác nhau, với những mục đích khác nhau.
Vào lúc 11 giờ sáng Chủ Nhật 04/03/2012 tại Trung Tâm Thiền 2050 Concourse Dr một buổi lễ bế giảng được tổ chức. Có sự hiện diện của một vị Thầy (người tu thiền cho biết như vậy) ông Phạm Phú Hay, đến từ Trung Tâm Thiền Orange County. Lễ bế giảng quy tụ khoảng hơn 20 người, trong đó có 7 môn sinh mãn khóa.
Người trưởng tràng (là môn sinh trưởng) ông Nguyễn Lực điều hợp buổi lễ mãn khóa.
Theo lời một thiền sinh, môn phái thiền có tên Vi Diệu Pháp Hành Thiền có chi nhánh nhiều nơi trên Hoa Kỳ và ở VN. Môn phái này do một vị sư Tích Lan, Ngài Narada Maha Thera truyền sang VN vào năm 1972. Hiện nay môn phái này có mặt tại HK trong cộng đồng người Việt.
Vi Diệu Pháp Hành Thiền có các khóa học và được chia làm nhiều cấp khác nhau từ số 1 đến số 9. Tại Trung Tâm San Jose chỉ được phép truyền đến cấp 3 (level 3). Và hôm nay là lễ bế giảng lớp thiền Level 3.
Cũng theo sự trình bày của một thiền sinh, môn Vi Diệu Pháp dùng thiền để chữa bịnh, mở “luân xa” trong người để điều hòa thân thể và tiêu trừ bịnh. Một cụ bà và một cụ ông được cho biết là do tập Vi Diệu Pháp mà dứt chứng ung thư, chữa được bịnh tê bại chân tay…Những người có bịnh có thể tự tập hoặc cùng đến tập chung với “đồng môn” và nhờ các bạn đạo cấp cao hơn truyền “nhân điện” để chữa bịnh.
Lớp Vi Diệu Pháp Thiền tại TT San Jose mở cửa mỗi ngày từ thứ Hai đến thứ Sáu, từ 6:00pm đến 8:00pm. Lớp tập không quảng cáo và không truyền ra đại chúng nên nhiều người chưa biết.
Vẫn theo lời một thiền sinh thì vị tổ thứ hai (Đệ Nhị Tổ) của môn thiền này có tên Narada Maha Thera, người Tích Lan; nhưng theo tài liệu thì đây là đạo hiệu của nhiều vị sư người Tích Lan. Người mang đạo hiệu Narada Maha Thera gần gũi nhất, và được nhiều người Việt biết đến nhất là Narada Maha Thera sanh ngày 14/7/1898 và mất ngày 2/10/1983, đã từng đến VN giảng đạo và nằm 1960 có mang 1 cây bồ đề từ Tích lan đến trồng tại Thích ca Phật Đài ở Vũng Tàu, là tác giả tập sách The Buddha and His Teachings, được Phạm Kim Khánh dịch ra Việt ngữ là Đức Phật và Phật Pháp.
Việc tu thiền đã truyền đến VN bằng nhiều đường, từ Trung Hoa qua ngã bắc phần, và từ Tích lan, Miến Điện…qua nam phần VN. Tại Nam Phần có rất nhiều vị đắc đạo như Đức Phật Thầy Tây An, Đức Huỳnh Giáo Chủ, Đức Phật Trùm, Sư Vãi Bán Khoai…v.v.
Trong cuối thế kỷ XX tại VN cũng có những vị tu thiền lập môn phái được nhiều người biết đến: Ông Tư, Ông Tám…ở hải ngoại có ông Lương Minh Đáng…v.v.
“Người giữ vững tín ngưỡng Phật Giáo chân chánh và tấn tới trên con đường từ bi, trí tuệ, giải thoát, quyết chí tu hành đắc thành đạo quả hầu dắt dìu bá tánh, cứu độ chúng sanh.” Đó là một trong nhiều điểm Đức Huỳnh Giáo chủ truyền lại cho môn đồ.
Theo giáo lý của Phật truyền lại thì trong mỗi chúng ta đã có sẵn chủng tử giác ngộ gọi là Phật tánh. Ai cũng có thể tu thành Phật, và cần phải tinh tấn, có chánh tâm, chánh kiến…v.v. Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, của Tổ Mã Minh có đoạn sau đây, theo bản dịch của ông Cao Hữu Đính: "Đối với các việc lành, lòng không do dự lùi bước, ý chí kiên cường, xa lìa khiếp nhược, phải nhớ nghĩ rằng từ quá khứ lâu xa đến giờ, mình đã luống chịu quá nhiều đau khổ, hết thân tâm này qua thân tâm khác, mà chẳng ích gì. Cho nên giờ đây, phải lo siêng tu các công đức lợi mình lợi người, để chóng thoát khổ... Cần phải dõng mãnh siêng năng, ngày đêm sáu thời, lễ bái chư Phật, thành tâm sám hối, khuyến thỉnh chư Phật thuyết pháp, tùy hỷ công đức và hồi hướng công đức về nơi quá Giác, thường xuyên như vậy, không ngưng không bỏ, thời nghiệp chướng mới tiêu tan và căn lành mới tăng trưởng".
LÊ BÌNH



