- Articles View Hits
- 719408
30 tháng 4, 1975..Mãi mãi không quên!
Mỗi năm cứ đến ngày oan trái
Thắp nén hương lòng tưởng nhớ ai.
(Vô danh)
Paris xuống đường
Trong các hình ảnh lịch sử 30 tháng Tư phổ biến mấy năm qua có hình Paris xuống đường gây nhiều xúc động. Mới đây tấm hình này lại được anh Nguyễn Ngọc Bách gửi lại với hàng chữ viết tay phía dưới của một sinh viên vô danh. Bác sĩ Hoàng cơ Lân chuyển cho thân hữu chúng tôi nhân ngày quốc hận lần thứ 37 mãi mãi không quên.
Sau đây là thư của anh Nguyễn Ngọc Bách từ Paris.
“Bức hình này cùng thủ bút thuộc archive của THSV VN Paris, nay thì cũng đã thuộc về lịch sử rồi! Quý NT có thể sử dụng tùy nghi, Bách xin phép đăng nguyên văn thủ bút, vì hình và thủ bút đi chung với nhau từ trước đến giờ.
Trong những năm 75, 76 ... 80, Hải ngoại và Paris chỉ có sinh viên với Trần Văn Bá đứng mũi chịu sào. Thời đó không có tổ chức cựu quân nhân, không có Hướng đạo, không có chùa chiền, không có đảng phái, không có gì cả ...chỉ có sinh viên nghèo (vì bị cúp hết nguồn trợ cấp) và đợt tỵ nạn đầu tiên quậy nên chuyện mà thôi.
Trong đoàn người này ngày 27/04/75 chắc phải có anh Trần Văn Bá, vì qua vài hình khác, góc cạnh khác, thấy anh Bá chít khăn tang. Có thể nói rằng đây là cuộc biểu tình Quốc Hận năm thứ zéro tại Paris.” (Nguyễn Ngọc Bách)
Hội ngộ trại Trần Hưng Đạo, bộ tổng tham mưu
Xem tấm hình Paris, tôi hết sức bồi hồi tự hỏi, các bạn sinh viên này bây giờ ở đâu. Gần 40 năm qua, đã trên 60 tuổi cả rồi, các anh chị còn nhớ hay quên. Tuổi hoa niên đã sớm để tang cho quê hương. Trong chúng ta, ai cũng có riêng một ngày 30 tháng Tư. Riêng các bạn sinh viên Việt Nam tại Paris có thêm một ngày đau thương, sớm hơn 3 ngày.
Riêng phần chúng tôi, trong 37 lần quốc hận những năm qua, tôi có nhiều kỷ niệm riêng với ngày thứ 30. Số là vào năm 2005 chúng tôi kéo nhau lên DC tổ chức gặp lại chiến hữu lần đầu. Bây giờ 2012 bẩy năm sau, xem ra đối với nhiều bạn kỳ họp mặt đó đã thành ra lần cuối. Xin kể lại chuyện xưa cùng các bạn.Trong kỳ hội ngộ 30 năm của Trại Trần Hưng Đạo, Bộ Tổng Tham Mưu tại thủ đô Hoa Thịnh đốn, trung tướng Đồng Văn Khuyên tóc bạc phơ đã đi đến chào bàn và chắp tay xá từng chiến hữu. Gặp anh em cựu tù cải tạo trên 10 năm nhắc chuyện các tướng lãnh tự vẫn, vị tham mưu trưởng liên quân ngày xưa chợt nói ra cả gan ruột của mình. Ông nói rằng: Nghĩ lại thấy mình thật hèn.
Những người tuẫn quốc
Và như vậy là ông đã thực tâm nói hộ cho tất cả anh em. Các nhà lãnh đạo dù đảm lược can trường qua bao năm chinh chiến, nhưng dễ gì mà làm được người hùng tuẫn quốc như tiền nhân Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.
Các niên trưởng của tôi một thời tuổi trẻ như ông Khiêm, ông Thiệu, ông Viên. Lúc đó còn là Trung úy Cao Văn Viên, Trung úy Nguyễn Văn Thiệu và đại úy Trần Thiện Khiêm gặp nhau ở Secteur Hưng Yên vào đầu thập niên 50. Quý vị không biết rằng sau này sẽ làm tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Nếu bây giờ được sống lại tuổi hoa niên, ta sẽ làm lại từ đầu với bao nhiêu điều tốt đẹp hơn, cho bản thân, cho gia đình và cho đất nước. Kể cả các hành động anh hùng lẫm liệt. 
Cảnh QLVNCH di tản chiến thuật tại Cảng Đà Nẵng trong những ngày tháng 3, 1975.Getty Images
Và biết bao nhiêu tướng lãnh tư lệnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày nay còn sống hay đã qua đời đều có chung một kỷ niệm đau thương.
Chiêm nghiệm lại, việc rút quân hoảng loạn tại Quân khu I và Quân khu II đã trở thành một thảm kịch ghê gớm như một bệnh dịch, như ngọn sóng thần, như cơn hồng thủy vượt qua mọi sức đề kháng của con người. Vào cái thời điểm đó, trong một sáng một chiều, chúng ta không phải là những chiến sĩ anh hùng mà đã trở thành những con người khác.Không cần địch tấn công, các đơn vị cứ tan ra như một dung dịch hóa học được thử nghiệm.
Vì vậy các tư lệnh chiến trường của miền Cao nguyên, Hỏa tuyến, Duyên hải khi chạy về được miền Nam thì đa số đều tìm đường di tản. Tư lệnh và tư lệnh phó quân đoàn. Các tư lệnh tổng trừ bị và các sư đoàn. Tất cả hoàn toàn mất hết sức đề kháng kể cả lục quân, không quân, và hải quân. Tất cả đều tin rằng Mỹ bỏ Việt Nam và mọi thứ coi như cáo chung. Không thể tiếp tục cuộc chiến.
Riêng mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh và khi cộng sản đi vòng qua phòng tuyến sư đoàn 5 tại Lai Khê để tiến về Sài Gòn thì coi như một phần của miền Đông vẫn bình yên.Và chính ở các vùng đất hoàn toàn chưa nổi sóng đó đã sản xuất ra các vị lãnh đạo sẵn sàng vị quốc vong thân.Trong suốt 55 ngày cuối cùng của miền Nam năm 75 đã có biết bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh và gồm cả quân nhân các cấp đã tự sát.
Một số đã tự vẫn tại mặt trận hoặc tại nhà. Có các trường hợp tự tử chết cả gia đình. Chúng tôi ghi nhận rằng có nhiều anh em binh sĩ đã tự tử tập thể bằng lựu đạn tại chiến trường. Sau đây là một số trường hợp điển hình thường được nhắc nhở trong các năm qua
Thiếu tướng Phạm Văn Phú
Sau cuộc rút quân tại Cao Nguyên hỗn loạn trở thành thảm họa, tướng Phú, tư lệnh quân đoàn II đã uống thuốc độc tự tử tại Sài Gòn. Đó là vào ngày 29 tháng 4-1975. Thân nhân đưa vào nhà thương Grall để cấp cứu nhưng không kịp. Ông đã qua đời tại đây.
Trung sĩ I Quân Cảnh Trần Minh
Thuộc đại đội I quân cảnh đảm trách khu vực cổng chính bộ tổng tham mưu. Lúc 10 giờ sáng 30 tháng 4-1975, sau khi nghe Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng, Trung sĩ Trần Minh đã dùng súng lục tự tử dưới chân cột cờ bộ tổng tham mưu.
Trung Tá Long, Cảnh Sát Quốc Gia
Sau khi nghe tin đầu hàng sáng 30 tháng 4-1975, trung tá Long, cảnh sát quốc gia đã đến đứng chào tượng Thủy Quân Lục Chiến trước tòa nhà quốc hội ở Sài Gòn rồi rút súng tự sát. Báo chí ngoại quốc đã đăng hình của ông nằm ngay trước pho tượng. Hình chụp vào khoảng 12 giờ trưa 30 tháng 4-1975.
Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ
Khoảng 1 giờ trưa 30 tháng 4-1975, khi nghe lệnh đầu hàng, ông đã họp các sĩ quan tại bộ tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh tại Lai Khê. Sau khi dùng cơm với anh em, ông lui vào phòng riêng dùng súng lục tự vẫn. Vợ và 4 con nhỏ của ông di tản qua Hoa Kỳ ngày 28 tháng 4-1975 đến hai tháng sau mới biết tin.
Chuẩn tướng Trần Văn Hai
Chiều 30 tháng 4-1975 vị tư lệnh sư đoàn 7 bộ binh đã uống thuốc độc tự tử tại căn cứ Đồng Tâm – Mỹ Tho. Bà mẹ của tướng Hai đã đem xác con về chôn cất tại nghĩa trang Gò Vấp. Căn cứ Đồng Tâm là nơi đặt bản doanh của sư đoàn 7 bộ binh.
Thiếu tướng Lê Văn Hưng
Tư lệnh phó quân đoàn 4 đã dùng súng tự sát tại Cần Thơ tối ngày 30 tháng 4-1975. Lúc đó vợ và các con cũng có mặt cùng với các sĩ quan cận vệ thân tín. Tướng Hưng là vị tư lệnh nổi tiếng đã tử thủ tại trận An Lộc tỉnh Bình Long năm 1972.

Tư lệnh phó quân đoàn 4 -Thiếu tướng Lê Văn Hưng
Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam
Tư lệnh quân đoàn 4 đã dùng súng lục tự sát vào lúc 7 giờ sáng ngày 1 tháng 5-1975. Ông là người đã sống một ngày dài nhất từ lúc tổng thống Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng sáng 30 tháng 4-1975 cho đến sáng 1 tháng 5-1975. Ngay sau khi có lệnh đầu hàng ông đã gặp các đại diện phía cộng sản hai lần khi họ vào dinh tư lệnh tại Cần Thơ tiếp xúc nhưng cả hai lần đại diện phía cộng sản đều ra đi. Cũng trong chiều 30 tháng 4, tướng Nguyễn Khoa Nam đã đi thăm quân y viện Phan Thanh Giản lần cuối cùng. Ông cử đại tá Thiên vào chức vụ tỉnh trưởng Cần Thơ thay cho người đã ra đi. Ông ra lệnh không được phá cầu Long An và chấm dứt giao tranh để bảo toàn tính mạng các binh sĩ và dân chúng.
Trước khi quay vào phòng tự vẫn, sĩ quan tùy viên kể lại tướng Nam đã thắp nhang trên bàn thờ Phật, thỉnh chuông rồi đứng lên lan can tòa lầu nhìn xuống thành phố Cần Thơ lúc đó vắng lặng. Lúc đó vào sáng sớm ngày 1 tháng 5-1975.
Vùng 4 chiến thuật gồm toàn thể miền Tây Nam Phần với 3 sư đoàn, sư đoàn 21 (Bạc Liêu), sư đoàn 9 (Sa đéc) và Sư đoàn 7 (Mỹ Tho) cùng với 20 tiểu khu. Cho đến ngày 30 tháng 4-1975 miền Tây vẫn còn gần như nguyên vẹn. Vị Tư Lệnh Quân đoàn vẫn liên lạc hàng ngày với các đơn vị gồm cả Hải Lục Không Quân thuộc Vùng 4. Toàn thể quân số chính quy và địa phương trên 200 ngàn quân đã tan hàng trong trật tự. Một số lớn hiện đã có mặt tại hải ngoại.
Nếu tướng Nguyễn Khoa Nam tiếp tục chiến đấu có thể sẽ nhiều trận đẫm máu kéo dài thêm từ 3 đến 6 tháng. Cộng sản với quân số 20 sư đoàn cùng với kho vũ khí của miền Nam để lại sẽ trở thành một lực lượng quân sự mãnh liệt nhất đông Nam Á.
Toàn thể miền Tây sẽ trở thành cuộc chiến đau thương nhất trước khi chiến tranh Việt Nam kết thúc. Dứt khoát là Hoa Kỳ và thế giới tiếp tục quay mặt đi. Bao nhiêu người kể cả quân và dân hai phía sẽ chết thêm cho cuộc chiến bi thảm này. Với ba tiếng chuông thỉnh Phật. Vị tư lệnh vùng 4 đã theo gương tiền nhân Phan Thanh Giản dọn mình tự vẫn để chết thay cho hàng vạn sinh linh của sông Tiền sông Hậu vào giờ phút cuối cùng của cuộc chiến.
Trong buổi sáng cuối cùng 1 tháng 5-1975, tướng Nguyễn Khoa Nam đã đứng trên lan can của Dinh Tư Lệnh cùng với hai sĩ quan tùy viên cấp úy. Con đường Phan Thanh Giản trước mắt trong buổi bình minh vắng lặng của thị xã Cần Thơ. Vị Tư lệnh vùng 4 trở thành cấp chỉ huy cuối cùng của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đứng khóc. Nước mắt chan hòa làm hai sĩ quan tùy viên trung thành với ông thầy cũng khóc theo. Cái khung cảnh bi tráng tại Dinh Tư Lệnh vắng vẻ vào ngày đầu tháng 5-1975 của ba thầy trò Tư lệnh mới xúc động dường nào. Sau đó ông quay vào phòng tự sát bằng súng lục. Hành động vừa can trường vừa nhân đạo của tướng Nguyễn Khoa Nam đã nêu cao gương trách nhiệm uy dũng đồng thời cũng đã cứu cho sinh mạng của dân chúng và binh sĩ tại miền Tây không bị chết đau thương hỗn loạn như đã diễn ra tại Quân Khu I và Quân Khu II.
Ngày 30 tháng 4, 2012 ba mươi bẩy năm sau, trên bàn viết của tôi có một cái gạt tàn thuốc là bằng đồng vốn là đầu đạn đại bác được gò lại. Đây là quà tặng của pháo binh quân đoàn 4 tặng cho vị tư lệnh phó. Khi ông chết, đại úy Lê Quang Nghĩa thu dọn di vật đem về Sài Gòn. Ba mươi năm sau nhờ người đem tặng cho Viện Bảo Tàng tại San Jose.
Đặt tay lên cái gạt tàn thuốc giá lạnh gần 40 năm không còn hơi ấm. Nghe như có tiếng chuông thỉnh Phật năm xưa. Cuộc chiến đã tàn từ lâu rồi mà sao lòng người vẫn còn lạnh giá.
Như đã ghi lại ở phần trên, khi chiến tranh chấm dứt, tại khắp nơi có nhiều anh hùng Việt Nam Cộng Hòa đã tự quyết định đời mình không chịu sa vào tay giặc. Tuy nhiên chúng tôi không thể ghi lại được đầy đủ. Nhân ngày 30 tháng 4, 2012, 37 năm sau, xin thắp một nén hương lòng gửi về cho tất cả các anh hùng liệt sĩ. Trên bức hình Paris xuống đường 3 giờ chiều ngày 27 tháng Tư 1975, anh chị em sinh viên Việt Nam quấn khăn tang đi dưới biểu ngữ tưởng niệm các chiến binh cộng hòa đã hy sinh. Ý nghĩa đó thực sự dành cho những anh hùng tuẫn quốc 30 tháng Tư.
Chúng ta còn sống đến ngày nay, hãy sống sao cho xứng đáng với những đồng đội đã chết vì 30 tháng 4. [GC-SJ]
Con gái út Bà Nhu tử nạn giao thông ở Ý
Bà Ngô Đình Lệ Quyên, con gái út của ông Ngô Đình Nhu và bà Trần Lệ Xuân, qua đời hôm thứ Hai 16/4/12, tại Ý trong một tai nạn giao thông. Theo tờ Corriere della Sera, vụ tai nạn xảy ra lúc 8h30 sáng thứ Hai tại ở ngoại ô Rome, khi bà Lệ Quyên trên đường vào thủ đô làm việc. Sau cú va chạm giữa chiếc xe của bà với một xe bus chở học sinh đi ngược chiều, hậu quả là xe máy của bà Lệ Quyên chui vào gầm xe bus. 23 học sinh trên xe và tài xế không hề hấn gì.
Trang tin của tổ chức từ thiện Caritas of Rome, nơi bà Lệ Quyên làm việc, thông báo về việc bà tử nạn và những lời chia buồn.
Đức Ông Enrico Feroci, Giám đốc Caritas Roma trong thông cáo trên website của tổ chức này viết: “Bà Lệ Quyên là tấm gương trong nhiều năm về công tác giúp đỡ người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn với sự nhiệt tình và đức tin.”
Tại Caritas Roma, bà từng phụ trách các dự án liên quan tới tư vấn cho người di cư, người tị nạn và sau đó đặc trách việc điều hợp toàn quốc về tỵ nạn thuộc Caritas Italy.
Ông Gianni Alemanno, Thị trưởng Rome, cũng gửi thư đến Đức Ông Enrico Feroci để chia buồn và nhắc nhiều lần bà Lệ Quyên đã từng đối thoại với chính quyền để bênh vực quyền lợi người di dân, theo Caritas Roma.
"Tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc sau cái chết bất ngờ của Ngô Đình Lệ Quyên, một người phụ nữ đã hết sức chuyên nghiệp trong công việc trưởng bộ phận giúp di dân tại Caritas, hỗ trợ những người khó khăn trong xã hội", phó thị trưởng Rome Sveva Belviso phát biểu.
Bà Lệ Quyên là con gái út của ông Ngô Đình Nhu, cố vấn của chính quyền ở miền nam Việt Nam những năm 1960 - sinh tại Sài Gòn ngày 26/7/1959 và xin tị nạn ở Ý năm 1990 và sống tại đây cùng mẹ và các anh chị. Bà có bằng tiến sỹ luật ở Đại học Rome, lấy chồng người Ý và có một con trai.
Từ tháng 12/1992, đến tháng 11/1996, bà phụ trách Trung tâm lắng nghe người ngoại quốc thuộc Caritas Roma. Tháng 12 cùng năm đó bà đặc trách phân bộ di dân của Caritas, với nhiệm vụ phối hợp và giám sát các dịch vụ cũng như các dự án nhằm giúp những người di dân nước ngoài, người tị nạn và nạn nhân những vụ buôn người. Trong những năm sau đó, bà cũng đặc trách điều phối toàn quốc về tị nạn thuộc Caritas Italia.
Bà Lệ Quyêncũng là thành viên của Ủy ban di dân thuộc Caritas Âu Châu, và sau đó bà làm chủ tịch Ủy ban này. Từ tháng 6/2009 bà là chủ tịch phân bộ Ý của Hiệp hội nghiên cứu vấn đề người tị nạn trên thế giới, một tổ chức quốc tế phi chính phủ.
Năm 2008 bà được cấp quốc tịch Ý theo sắc lệnh của Tổng thống, do những đóng góp nổi bật cho Ý.
Bà Trần Lệ Xuân có bốn người con là Ngô Đình Trác, Ngô Đình Quỳnh, Ngô Đình Lệ Thủy và Ngô Đình Lệ Quyên. Chị gái của Lệ Quyên, bà Ngô Đình Lệ Thủy, qua đời vì tai nạn giao thông năm 1968. Năm 2011, bà Trần Lệ Xuân qua đời vì tuổi già tại Ý.-Tổng hợp
Bạc Hy Lai Trong Sa Lậu
"Đồng thuận Bắc Kinh" rung rinh vì Trùng Khánh
Như dòng cát chảy trong cái bình đồng hồ mà dân Tầu gọi là "sa lậu", vụ Bạc Hy Lai ngã ngựa và bà vợ là Cốc Khai Lai có khi vào tù, hay vụ án Trùng Khánh tiếp tục nhỏ xuống và tràn ra những tin ghê người về sự nghiệp và hành vi của cựu Bí thư Trùng Khánh cùng gia đình.
Kỳ trước, trong bài "Trùng Khánh Trùng Trùng" cột báo này đã trình bày bối cảnh của nội vụ và suy đoán về lý do thật khiến Bạc Hy Lai bay chức Bí thư Trùng Khánh rồi bị đuổi khỏi Bộ Chính trị cùng Ban Chấp hành Trung ương đảng Khoá 17. Lý do thật là sự chọn lựa sinh tử của đảng Cộng sản Trung Hoa về chiều hướng lãnh đạo trong tương lai. Chuyện ấy nay đã rõ.
Nhiều dịp trước đó, người viết cũng giới thiệu và phê bình mô hình phát triển của thành phố Trùng Khánh, có thời xem là mẫu mực và còn được sáu trong chín Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị ngợi khen. Nó giúp Bạc Hy Lai trở thành khuôn mặt sáng của thế hệ lãnh đạo thứ năm, sẽ thăng quan tiến chức trong Đại hội 18 sắp tới (xin quý độc giả theo dõi loạt bài này trên trang Dainamax Tribune của tác giả: http://dainamaxtribune.blogspot.com)
Chuyện ấy cũng đã xong khi lãnh đạo Bắc Kinh đang cho điều tra lại tình trạng tham ô và nợ nần của Trùng Khánh lẫn hành tung của Bạc Hy Lai khi còn là Bí thư Liêu Ninh rồi Bộ trưởng Thương mại.
Nhưng, ngoài các chi tiết hấp dẫn được phanh phui, ta còn cần nhìn ra nhiều chứng tật bẩm sinh của mô thức chính trị Trung Quốc mà bên ngoài gọi là "Đồng thuận Bắc Kinh", hay "Beijing Consensus". Từ nguyên thủy, đó là một chữ do doanh nghiệp du thuyết – chuyên về "lobby" – của Henry Kissinger đặt ra từ năm 2004 với dụng ý ngợi khen và gây ấn tượng tốt đẹp về mô thức Trung Quốc so với các mô thức khác.
Trong hoàn cảnh khó khăn chung từ bốn năm nay của các nước đi theo kinh tế thị trường, chính trị dân chủ và xã hội cởi mở - chủ yếu là ba khối kinh tế Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản - giải pháp chủ động phát triển với vai trò lãnh đạo của nhà nước có thể đạt kết quả khả quan hơn, như trường hợp Trung Quốc, với mức tăng trưởng tột bậc. Vì vậy, mô thức Trung Quốc có sức cám dỗ rất cao cho nhiều quốc gia chậm tiến và các chế độ độc tài.
Thậm chí, việc nhà nước can thiệp nhiều hơn vào thị trường cũng được nhiều nước dân chủ đề cao, như ta đang thấy ngay tại Hoa Kỳ, với chủ trương của Chính quyền Barack Obama và đảng Dân Chủ.
Chuyện Bạc Hy Lai đang chết kẹt trong cái bình sa lậu là cơ hội cho chúng ta nhìn lại....
Trước hết, trên nguyên tắc, khi được đề cử vào Bộ Chính trị, 25 người cầm đầu đảng Cộng sản Trung Hoa đều mặc nhiên cam kết là khi nào họ còn tại chức thì bản thân không liên hệ vào bất cứ một cơ sở kinh doanh nào. Lý do lý tưởng ở đây là nhờ vậy, họ có thể ở vào vị trí khách quan để thẩm xét những chọn lựa chiến lược cho việc quốc kế dân sinh, chứ không vì tư lợi.
Trong thực tế, gia đình và thân tộc của họ vẫn có quyền và nhờ đó có cái thế tham gia vào việc kinh doanh trong một hệ thống kinh tế mà các doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo và được ưu đãi. Nhưng trên nguyên tắc, đám thân tộc này vẫn được gọi là "tư doanh" và còn được giới đầu tư quốc tế ve vãn qua các công ty môi giới, hay doanh nghiệp thuyết khách, và các tay cò quốc tế.
Doanh gia Neil Heywood bị tình nghi là đánh độc dược bằng thạch tín là một loại cò mồi đó – mà vẫn chỉ là cò con – và thi hài được lật đật hoả táng, cho đến khi Giám đốc Công an Trùng Khánh phanh phui làm Bạc Hy Lai và gia đình ngã ngựa.Hiện tượng Bạc Hy Lai, con trai của Bạc Nhất Ba, một trong "bát đại nguyên lão" – các đồng chí cách mạng thời Mao Trạch Đông – hay bà vợ là Cốc Khai Lai, con gái của một viên sĩ quan lừng danh năm xưa khi "cho Việt Nam một bài học" năm 1979, cùng nhiều nhân vật khác trong "Thái tử đảng" không là hy hữu mà là quy luật.
Khi vụ Trùng Khánh đổ bể, người ta biết thêm về vai trò "doanh gia" của anh và em Bạc Hy Lai như Bạc Hy Dũng, Bạc Hy Thành, hay các chị em của Cốc Khai Lai là Cốc Hoàng Giang, Cốc Hoàng Ninh, v.v.... Chẳng những vậy, con cháu những Đặng Tiểu Bình, Lý Bằng – công trình sư của vụ thảm sát Thiên an môn năm 1989 – hay rất nhiều lãnh tụ khác trong khu Trung Nam Hải, kể cả Ôn Vân Tùng, con trai của Tổng lý Quốc vụ viện, đương kim Thủ tướng Ôn Gia Bảo, đều là loại doanh gia thành công và rất được quốc tế trọng vọng.
Sự cấu kết giữa "tư doanh" có thế lực và quan hệ với các tập đoàn nhà nước trong một chế độ tư bản nhà nước tất nhiên dẫn đến "chủ nghĩa tư bản thân tộc", "crony capitalism", một ấn bản hiện đại hơn của quy luật châu Á nay hết là độc quyền Á châu: một người làm quan cả họ được nhờ.
Đấy là sự bất công của hệ thống tư bản nhà nước "với màu sắc Trung Hoa" hay "theo định hướng xã hội chủ nghĩa" vì tạo ra một sân chơi bất bình đẳng. Nhưng nhập gia tùy tục, tư bản quốc tế vẫn nhảy vào sân chơi đó với cái đòn bẩy là mối quan hệ cùng thân tộc của lãnh đạo.
Nhiều người còn tô màu ngũ sắc cho sự cấu kết mờ ám bằng khẩu hiệu "Đồng thuận Bắc Kinh".
Điều mà người ta ém nhẹm bên dưới là nhìn từ quan điểm quyền lợi của bá tánh hay sự vững bền của mô thức phát triển, các nhóm quyền lợi đó tác động vào sự chọn lựa của lãnh đạo ở trên. Họ thực tế cản trở việc cải cách và đưa xứ sở vào "bẫy xập" là điều mà chính các học giả của chế độ đã báo động: Trung Quốc hết dám cải cách khi chiến lược phát triển đã đi hết giới hạn của sự vận hành khả quan từ 30 năm qua. Nay đang bị nguy cơ khủng hoảng!
Đấy là lúc không nên thoái lui về chủ trương bảo thủ của Mao Trạch Đông do Bạc Hy Lai minh diễn với sự hùng hồn của một nghệ sĩ. Nhưng vấn đề không chỉ có khía cạnh kinh tế chính học học nhờ nhờ màu đỏ như vậy!
Vấn đề sâu xa hơn thế là với quyền lưc tuyệt đối của đảng và con mắt tinh tường của Ban Kỷ luật Trung ương, cơ chế tối cao về nhân sự và kỷ cương trong đảng, còn cao hơn cả Ban Tổ chức Trung ương lẫn Ban Chính pháp Trung ương, vì sao một nhân vật như Bạc Hy Lai đã có thể vọt lên như ngôi sao băng?
Phải chăng, thành tích hay tỳ vết của họ Bạc khi còn là Bí thư tỉnh Liêu Ninh rồi Bộ trưởng Thương mại trước khi về lãnh đạo Trùng Khánh năm năm về trước là những gì mà ở trên không biết, hoặc đã biết một cách lệch lạc nên mới sớm đề bạt và còn ngợi ca? Bây giờ Ban Kỷ luật mới lại mở cuộc điều tra và càng điều tra càng thấy giật mình.
Tệ nạn tham nhũng của họ Bạc đã có từ thời ở Liêu Ninh và thành tích "đả hắc" – diệt trừ các tổ chức tội ác của xã hội đen – tại Trùng Khánh đã che giấu nạn thụ tiêu đối lập và cấu kết với mafia! Ngoài Bạc Hy Lai, còn những ai khác có thể đang ở trong trường hợp này?
Nếu Vương Lập Quân không mò ra và bỏ chạy vào tòa Tổng lãnh sự Mỹ ở Thành Đô để tìm cõi sống, thì trung ương có biết không? Và có bao giờ mà người dân được biết không?

Vương Lập Quân, giữa trong vòng vây báo giới Bắc Kinh tháng 3, 2012. Getty Images
Ngoài cái nạn tư bản thân tộc và việc kiểm tra nhân sự, chuyện thứ ba, còn gai góc hơn cho "Đồng thuận Bắc Kinh" là việc chuyển giao quyền lực.
Với cái nhìn lạnh lùng về mọi cuộc đấu tranh giành quyền lực ở mọi thời, mọi nơi, người ta đều có thể kết luận rằng vụ Bạc Hy Lai là một biểu hiện của chuyện tranh quyền.
Có thể họ Bạc được hậu thuẫn của Trưởng ban Chính pháp Chu Vĩnh Khang hoặc một số tướng lãnh, kể cả con trai duy nhất còn lại của Lưu Thiếu Kỳ là Tướng Lưu Nguyên, nhưng gặp trở ngại từ nhiều nhân vật lãnh đạo khác trong Bộ Chính trị. Họ là những ai? Chúng ta khó biết được.
Họ có thể là Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo và Hạ Quốc Cường, Trưởng ban Kỷ luật, là những người thuộc lớp lãnh tụ sắp về hưu, hay Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, là hai người sẽ lên thay thế cặp Hồ-Ôn, hoặc Bí thư Quảng Đông là Uông Dương, một cựu Bí thư Trùng Khánh và nhân vật đang hy vọng ngồi vào ghế "thất hiền", bảy Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị sau Đại hội 18. Xuyên qua đó, ta có thể đoán ra một số thế lực bên trong "cái đa số thầm lặng" này.
Nhưng hãy nhìn sân khấu chính trị Trung Quốc trong viễn cảnh sâu xa hơn.
Từ năm 1981, Đặng Tiểu Bình đề ra nguyên tắc đồng thuận là tập thể lãnh đạo phải giữ vẻ thống nhất – không công khai hóa những dị biệt về quan điểm hay chủ trương – và tuyệt đối gạt bỏ tệ sùng bái cá nhân như dưới thời Mao. Ông cũng đề ra nguyên tắc chuyển giao quyền lực một cách ôn hoà khi lãnh đạo chọn trước những người sẽ lên thay thế trong thập niên tới.
Vậy mà họ Đặng đã tuột tay trong vụ khủng hoảng Thiên An Môn năm 1989 khiến mấy ngàn người bị tàn sát và đương kim Tổng Bí thư là Triệu Tử Dương bị quản thúc tại gia cho đến chết. Lần đó, các tướng lãnh đã được điều vào thay thế Quân khu Thủ đô để dẹp loạn tại Bắc Kinh. Nhờ đó, Giang Trạch Dân và Kiều Thạch cùng Lý Bằng đã lên ngôi, trong khi cũng theo ý họ Đặng mà chọn trước Hồ Cẩm Đào sẽ lên thay thế trong Đại hội 16 vào năm 2002.
Từ 1991, Trung Quốc đã bảo đảm được sự chuyển quyền tương đối êm ả trong hai chục năm.
Nhưng vụ Bạc Hy Lai bị đột ngột hạ bệ cho thấy nhược điểm của lối tuyển chọn âm thầm đó. Có âm thầm là có mờ ám! Sự mờ ám này làm đảng Cộng sản Trung Hoa đang bị khủng hoảng khi chuyển giao lãnh đạo cho thế hệ thứ năm và chuẩn bị người thay thế trong thế hệ lãnh đạo thứ sáu.
So sánh với tiến trình tranh cử ồn ào, tèm lem và đầy bất ngờ của các nền dân chủ, sự ổn định ở bề mặt của mô thức Trung Quốc mới là một bất trắc sinh tử! Sinh tử nhất, nếu ta không mắc bệnh quên trí nhớ là vụ Thiên an môn bùng nổ vì một nguyên nhân đầu tiên: dân chúng biểu tình phản đối nạn tham nhũng và mối lo về lạm phát. Chuyện đấu tranh cho dân chủ chỉ là hậu quả, đến sau....
Tham nhũng hay lạm phát cũng đang là mối lo hiện đại của lãnh đạo vì là sự bất mãn của quần chúng.
Vấn đề ấy dẫn ta về hiện tại là chuyện thứ tư là sự đổi thay của xã hội.
Khi Đặng Tiểu Bình còn tại thế, xã hội Trung Quốc chưa có cuộc cách mạng tín học và làn sóng thông tin có thể gọi là vô cương, không biên giới.
Nhờ khả năng bưng bít thông tin và tuyên truyền có định hướng, các lãnh tụ ở trên đã có thể âm thầm và nham hiểm kiểm soát nhận thức của mọi người như những đạo diễn có tài, vì mọi diễn viên trong hậu trường đều theo sát kịch bản đồng thuận đã được tập thể chọn lựa.
Nhưng qua thế kỷ 21, hiện tượng thông tin vô cương và mạng lưới xã hội điện tử toàn cầu đã đảo lộn trò chơi hắc ám này. Khi nội vụ đổ bể từ hôm mùng bảy Tháng Hai – là lúc Vương Lập Quân đồng ý ra khỏi toà Tổng lãnh sự Mỹ tại Thành Đô để được giải về trung ương là Bắc Kinh thay vì có thể bị tay chân họ Bạc thủ tiêu ngay tại Trùng Khánh – làn sóng thông tin đã phá vỡ những bức cách ngăn cách của lãnh đạo.
Ban đầu, các lãnh tụ Bắc Kinh còn tương kế tựu kế mà cho loan truyền một số tin tức có chọn lọc và dụng ý về Vương Lập Quân rồi Bạc Hy Lai. Nhưng trong hai tháng liền, qua các mạng lưới thông tin chằng chịt ở trong và ngoài Trung Quốc, làn sóng đó đã gây phản tác dụng theo đúng quy luật "lộng giả thành chân": có nơi loan tin về nguy cơ đảo chánh quân sự và có nơi phát động phong trào đề cao Mao Trạch Đông – để bênh vực Bạc Hy Lai.
Chuyện đồng thuận và âm thầm bỗng dưng chấm dứt. Và mở ra nguy cơ tranh luận công khai không chỉ trên thượng tầng mà ngay trong quần chúng và cả... quân đội. Kết cuộc thì y như trong vụ Lâm Bưu tử nạn năm 1971 sau một vụ đảo chánh hụt và bị phản đảo chánh, các tướng lãnh phải lên tiếng thề bồi là Quân đội Giải phóng vẫn tuyệt đối trung thành với đảng!
Khi nhìn lại toàn vụ, từ chuyện tư bản nhà nước, tư bản thân tộc đến tham nhũng và tranh quyền, từ việc kiểm tra nhân sự đến tuyển chọn lãnh đạo và điều hướng dư luận, mô thức Trung Quốc hay cái gọi là "Đồng thuận Bắc Kinh" chỉ là bi kịch của xã hội đen khoác áo đỏ.
Xét cho cùng thì cũng chẳng khác chi tuồng hát ở Hà Nội. [NXN]
Chiến Tranh Giả Tạo

Ann Romney, trái, vợ ứng viên TT Mit Romney phản hồi bà Rosen: “Hãy tin tôi đi, công việc nuôi đứa 5 con là công việc rất nặng nề”. AFP/Getty Images
Truyền thông của Mỹ trong một hai tuần qua nói nhiều về sự bùng nổ của “cuộc chiến của các bà mẹ” (mommy war), ý ngưòi ta muốn nói những người mẹ phải ở nhà trông con đã phản ứng vì mấy bà nghĩ rằng người ta nói mấy bà quá sướng, chỉ ngồi chơi trong khi những người khác phải đi làm. Có dư luận cho rằng cuộc chiến này phát ra từ phía các nhà chiến lược vận động bầu cử khéo tránh né và giỏi lèo lái của ông Mitt Romney, nhằm chống lại một sự chỉ trích nhắm vào ông liên quan đến vấn đề phụ nữ trong thời buổi kinh tế ngày nay. Nhưng từ phía Romney, người ta nói lên luận điệu cố hữu: “Tôi chẳng chơi ai. Ai chơi tôi, tôi chơi lại.” Chẳng cần ông nói, các ông Rick Santorum và Newt Gingrich đều đã thấm đòn với triết thuyết “mắt đổi mắt, răng đổi răng” có tính cách tôn giáo này của ông cựu thống đốc Massachusetts và là một người chức sắc lớn trong nhà thờ Mormon. Nhưng cuộc chiến này được nhiều nhà bình luận liên tiếp nhấn mạnh là một “phony war”, một cuộc chiến giả tạo – như hai bài nhận định tuần này của ký mục gia nổi tiếng Maureen Dowd trên tờ New York Times và bài “Hilary Rosen đúng thôi” (Hilary Rosen was right) trên tờ Washington Post mà tác giả cũng là một bỉnh bút phái nữ - bà Linda Hirshman.
Một cuộc chiến giả tạo thường dược dựng lên để che đậy một vấn đề có thực mà người ta muốn tránh né. Vấn đề là ở chỗ đó: bà Hilary Rosen này là ai (tiếc là không có nhạc sĩ nào ở đây đặt một bài hát cho người Cộng Hòa: “Nàng Là Ai?”, mà dám đụng đến ông Romney) và bà nói gì mà nhà báo Hirshman cho rằng bà nói chẳng sai nhưng gây “căm phẫn” trong giới phụ nữ, và tại sao bà Dowd cho rằng sự căm phẫn này là giả tạo, gượng ép, nhằm cho người ta có thể ngoảnh mặt đi trước một sự bất bình có thật của phụ nữ.
Nghi can này, bà Hilary Rosen, chẳng phải là người xa lạ trong hàng ngũ đảng Dân Chủ, cho dù Nhà Trắng đang tỏ ra thiếu sự dũng cảm cho nên giữ khoảng cách với bà. Bà được gọi là một “Democrat strategist” (một nhà chiến lược của đảng Dân Chủ), một tước vị có vẻ mơ hồ, nhưng cụ thể bà là một người làm cung cấp dịch vụ nghiên cứu, tư vấn, và vận động hành lang cho đảng này. Đây là công việc chuyên viên bà làm hơn 20 năm nay, vừa cho thấy sự gắn bó của bà với đảng Dân Chủ vừa cho thấy một sự nghiệp khá truân chuyên vừa phải nuôi con, vừa phải tìm chỗ tấp vào như một con đò tìm bến đậu. Tuần qua, Hilary Rosen đã có một phát biểu về bà Ann Romney, vợ ông Mitt Romney, đúng hơn là nhằm ông nhưng phải nói tới bà, và như thế là một số người như muốn nhảy vào làm thịt bà Rosen. Nhà truyền thông Dân Chủ này cho rằng bà Romney còn lâu mới biết được nỗi khổ của phụ nữ ngày nay. Bà Rosen nói: “His wife has actually never worked a day in her life.” (Vợ ông ta thực sự chưa đi làm một ngày nào trong đời bà). Tức thì, nhiều người đưa ngay ý kiến lên mạng. Người thì nói: “Bà này chẳng biết nỗi khổ của việc quần quật bên con cái cả ngày.” Có bà than: “Ở nhà chỉ là chuyện bất đắc dĩ. Một gia đình mà chỉ sống vào đầu lương của một ngưòi thì sao sống nổi. Nhất là trong nỗi lo canh cánh chồng có thể bị mất việc lúc nào không hay.” Ngay bà Romney cũng nói: “Làm mẹ năm đứa con chưa đủ sao mà bắt người ta đi làm.” Và ông Romney lập lại một câu ông ưa chuộng: Đúng là ganh tỵ.
Nhiều người nhảy ngang vào phê bình bà Rosen mà quên đi nguyên tắc câu chuyện gì cũng phài có đầu, có đuôi. Phải hiểu bối cảnh câu chuyện, đặt nó vào đúng “context”, người ta mới hiểu được tất cả “nguồn cơn bối rối” này. Số là nay ông Santorum đã rút, kể như ông Romney là ứng cử viên của đảng Cộng Hòa, cho nên ông Romney phải thay đổi sách lược tranh cử, không còn cần tìm cách chứng minh mình là người “bảo thủ hết thuốc chữa” nữa, mà ngược lại phải nói “Tôi là người Cộng Hòa ít bảo thủ nhất, ôn hòa nhất” để giành thêm được lá phiếu của người Dân Chủ và độc lập nào, hay lá phiếu đó. Bởi thế, từ nay, cử tri yên tâm. Ông sẽ tỏ ra lo lắng đến phụ nữ, đến người lao động, đến người già, đến sinh viên, học sinh, đến di dân, kể cả di dân lậu. Trước mắt, Mitt Romney đang bước vào giai đoạn vận động lá phiếu phụ nữ trong cuộc tranh cử của ông, bởi thế mấy hôm nay ông chỉ nói về nỗi niềm phụ nữ. Thậm chí ông tung vợ ông vào cuộc vận động này, bởi vì đúng là bà thường ở trong nhà, ít ra đời, nên được tiếng là hiền lành, không lắm chuyện.
Ông nói đại khái là ông quan tâm đến hoàn cảnh phụ nữ trong thời buổỉ kinh tế khó khăn hiện nay, bởi vì ông thường nghe vợ ông bàn bạc về chuyện này. Ông nói vợ ông nói với ông mối quan tâm số 1 của phụ nữ hiện nay là kinh tế! “Cứ gặp vợ tôi là bà nói chuyện đó!’ Bà Rosen đêm thứ Tư tuần trước nói với CNN rằng ông Mitt Romney chẳng nên dựa vào vợ ông để nắm được tình hình về những vấn đề kinh tế ảnh hưởng đến phụ nữ. Bà nói: “Mùa tranh cử này đúng là xấu xa”. “Chúng ta đang thấy ông Mitt Romney chạy quanh và nói ‘Quí vị thấy đấy, vợ tôi bảo với tôi là điều mà phụ nữ quan tâm thực sự chính là những vấn đề kinh tế, và khi tôi lắng nghe vợ tôi, đó chính là những điều tôi đang nghe…’ Ông Romney nói thế đấy, nhưng quí vị biết không? Vợ ông thực sự chưa phải đi làm một ngày nào cả trong đời của bà”. Bà Rosen còn nói bà Romney “chưa bao giờ phải đối đầu với loại vấn đề mà đa số phụ nữ ở nước này đang gặp phải, về những việc như là làm sao cho con ăn, cho con đi học, và tại sao phải lo cho tương lai của lớp trẻ”.
Chỉ có những người đàn ông vô tâm, không suy nghĩ, vô dụng lắm mới không thể tưởng tượng được những gì phụ nữ phải lo, phải sợ, phải đối phó trong thời này đến mức phải hỏi vợ. Hơn nữa, ông là nhà chính trị, muốn biết thực tế xã hội, ông phải thăm hỏi trực tiếp người dân, đi sâu đi sát với dân trước đã. Và rồi ông còn những chuyên viên, phụ tá làm việc bên ông. Những người đó phải là tai mắt của ông ngoài xã hội. Khi ông nói ông phải hỏi vợ ông, ông chỉ phơi bày một lần nữa cách ăn nói cũng như cuộc sống có vẻ rất không thực, không đáng tin, rất kịch tính của ông. Ông nói để cho người ta thấy ông tin vợ, tin gia đình, nhưng người ta chỉ nhớ một hình ảnh rất quen thuộc của ông: một người hợm hỉnh, đứng trên tầng cao của xã hội, chẳng hiểu được, chẳng nắm được cuộc sống ngày nay trong xã hội, nhất là cuộc sống của những tầng lớp bất hạnh, bấp bênh, chịu nhiều đe dọa trong cuộc sống thời nay.
Ông hỏi thăm ai cho biết người dân sống như thế nào? Ông hỏi thăm vợ ông kề như huề, bởi vì ông Romney phải thừa biết vợ ông chỉ có thể “chung chung” trước câu hỏi này vì những kinh nghiệm “business” của bà chắc “chẳng giống ai”: quản lý năm đứa con; ba, bốn cái biệt thự; hai chiểc xe Cadillac của riêng bà, và trại nuôi ngựa cũng của riêng bà ở tiểu bang Washington. Bà là nhà kinh doanh, nhà quản lý nhưng chỉ biết có chi, chẳng cần bận tâm về phía thu. Tất cả những gì mà bà Rosen nói chỉ là những sự thật đắng cay trên đời: có những phụ nữ chẳng làm gì cả, ngay cả chuyện giữ con, nuôi con có thể cũng không phải đụng đến ngón tay vì quá giàu và dư giả người làm. Chưa nói đến những chuyện phụ nữ phải bận tâm loanh quanh trong nhà như sắp xếp, thu dọn đồ đạc trong nhà, làm giường, hút bụi cầu thang, gom áo quần đi giặt… Bà Romney không đi làm không phải là vì không kiếm được việc làm phải ở nhà trông con, mà vì bà không thèm đi làm, chưa bao giờ cần phải đi làm. Một người chưa hề đi làm được một ngày trong đời (khác xa các bà Clinton, bà Bush, bà Obama…), chưa bao giờ cần phải đi làm để biết thế nào là đỏ mắt đi kiếm việc, một người như thế, thực sự có thể góp ý được gì cho ông Romney về hoàn cảnh phụ nữ trong cuộc sống ngày nay, những chuyện như việc làm sức khỏe, bệnh tật phu nữ, hôn nhân, nuôi dưỡng, săn sóc, giáo dục con cái, nhà cửa, sự va chạm giữa việc làm và đời sống gia đình,…
Sự thật mà ai cũng có thể biết, thâm tâm phải nhìn nhận là bà Ann Romney chẳng có mấy trong đầu để ‘tư vấn” cho chồng về chuyện kinh tế của phụ nữ. Thế nhưng sau khi bà Rosen “lỡ lời” bà Romney đã lái qua chuyện khác, tức tưởi như bị bức hiếp mà nói rằng đừng nói bà ngồi chơi, không làm gì cả, vì bà có đến năm con, phải chăm sóc, nuôi dưỡng, đủ mệt rồi, làm sao đi làm! Như vậy, bà quá sướng hơn những người vừa phải đi làm (và lo lắng đêm ngày mất việc) vừa phải lo cho con (và sợ con không ai lo cho ăn uống, tắm rửa, áo quần, học hành, bạn bè…).
Đúng là bà Rosen thiển cận. Thiển cận cho nên không lường được thế lực của bà Romney. Thiển cận vì không thấy tâm sự của bà Romney. Trong đạo LDS, người ta khuyến khích sinh đẻ như tạo công đức (nhờ thế môt phần dân số Mormons tăng trưởng nhanh hơn các tôn giáo khác, không sợ người ta bỏ đạo, là một “tai nạn” đang phổ biến hiện nay). Ở Mỹ, ai mà dám có hơn hai con! Hơn nữa, hai vợ chồng cứ nghĩ là đã giàu thì không sợ có con. Ai ngờ, có con đông thì phải mướn đông người giúp việc, trông nom người làm cũng đúng là một business. Sao bà Rosen nói bà Romney chẳng biết business là cái quái gì cả. Bà Rosen chơi dại như trẻ em không vào phòng vệ sinh mà ria ngay vào ổ kiến lửa.
Đúng là bà mắc tội phạm thượng, cho dù ông Romney chưa lên ngôi hoàng đế! Người ta nói ông Romney hôm thứ Ba cười đắc thắng vì đã “quật ngược thế cờ” trong vụ “stay-at-home moms”, xem vụ công kích của bà Rosen như là “một món quà sinh nhật” cho bà Romney mà buổi tiệc sinh nhật được ông Vịt Donald (Trump) tổ chức khoản đãi. Thế nhưng để hiểu vấn đề hơn nữa, chúng ta lại cần để ý một cuộc thăm dò kết quả mới được đưa ra hôm thứ Tư: ông Mitt Romney là ứng cử viên tổng thống “ít được ưa chuộng” nhất trong 28 năm qua. Và một tin khác: ông Romney cho rằng nếu đắc cử tổng thống, ông sẽ bỏ bộ Phát triển Gia cư và Đô thị (Housing and Urban Development), là bộ có trách nhiệm lo về vấn đề nhà ở cho tầng lớp dưới.
Hai tin này chắc chắn có “quan hệ hữu cơ” với nhau! [HNN]
Cuốn sách của Lewis Sorley* Kissinger và Westmoreland Hai nhân vật làm hư đại cuộc

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger, trái , trong một thảo luận với TT Gerald Ford năm 1974. Getty Images
NHÌN LẠI NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975
Mỗi năm cầm bút viết về 30 tháng 4, vết thương như còn mới và lòng vẫn thấy đau. Như những tiền lệ lịch sử khi chiến tranh kết thúc, kẽ thắng huyênh hoang đúng là: “Lịch sử là hồ sơ ghi nhận những sự nói láo của kẻ thắng” còn người thua thì chỉ tay đổ lỗi. Ba mươi bảy năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến thắng của chủ nghĩa tất thắng Marx-Lenin chỉ là chiến thắng của Đảng Cộng Sản Việt Nam trên dân tộc Việt. Về phía kẻ thất trận, lý do không giản dị như Tổng Thống Richard Nixon viết trong hồi ký: “Việt Nam Cộng Hòa thua vì Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lãnh còn quân lực VNCH đã chiến đấu anh dũng.”
Những cuốn sách và tài liệu lịch sử như “Không hòa bình chẳng danh dự” của Larry Berman, “Nixon và Mao” của bà Margaret McMillan cùng những tài liệu về hiệp định Ba Lê và những bài viết về phía VNCH của các ông Bùi Diễm, Hoàng Đức Nhã, Nguyễn Xuân Phong và Nguyễn Phú Đức và gần đây “Về Trung Hoa” (On China) của Tiến Sĩ Henry Kissinger đã cho thấy ông Kissinger là một trong những nguyên nhân chính gây ra cái chết của VNCH trong bàn cờ thế giới vì những tư lợi, khác với những dư luận và quan điểm những năm trước như Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh Mục Cao Văn Luận cho rằng Henry Kissinger đã đánh đổi VNCH để giữ Trung Đông vì ông là người gốc Do Thái. Bà McMillan đã cho thấy ông Kissinger đã đạt được hai điều căn bản khi Nixon và Mao gặp nhau năm 1972: Hoa Kỳ không loại bỏ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và Bắc Việt được giữ quân ở lại miền Nam. Hoa Kỳ đã lầm lẫn đánh giá cao tiềm năng quân sự của Xô Viết và không biết quân Trung Hoa nằm lẫn trong quân Bắc Việt kể cả pháo thủ phòng không.
Tiến Sĩ Henry Kissinger đã bi quan về Việt Nam ngay ngày đầu tiên thăm viếng miền Nam giữa thập niên 1960. Trong khi đa số tướng lĩnh Hoa Kỳ tin trận chiến vì lý tưởng tự do như Tổng Thống John F. Kennedy tuyên bố khi gửi cố vấn quân sự qua giúp VNCH và trận chiến chống cộng sản có thể thắng thì Kissinger chỉ muốn rút quân. Kissinger là người phản bội chỉ biết lợi ích cá nhân, trước theo Tổng Thống Johnson sau chạy theo Tổng Thống Richard Nixon, ông phá hiệp định Paris của TT Johnson qua trung gian “Con Rồng cái” bà Ann Chennault, để TT Nixon gặp Đại Sứ Bùi Diễm vào tháng 7, 1968, sau đó đặt máy theo dõi tòa đại sứ VNCH ở Hoa Thịnh Đốn để biết chắc kế hoạch thành công khi bắt được điện tin ngày 23/10/1968 của Đại Sứ Bùi Diễm gởi TT Nguyễn Văn Thiệu: “Các bạn đảng Cộng Hòa đã tiếp xúc với tôi khuyến khích VNCH giữ vững quan điểm không ký hiệp định Paris”. Các cuộc dò xét điện tin đi thẳng về Cartha De Coach (Deke) làm việc cho giám đốc FBI Edgar Hoover.
Năm năm sau, TT Nguyễn Văn Thiệu ký hiệp định Paris, điều khoản vẫn thất lợi cho VNCH, Hoa Kỳ không giữ lời hứa ném bom khi Việt Cộng và Bắc Việt vi phạm hiệp định Paris.
TS Kissinger bán VNCH và giúp Trung Cộng giàu mạnh để chống lại Nga với giá cao cho cá nhân ông. Sáu năm sau khi ông Kissinger không còn giữ chức cố vấn Tổng Thống, Kissinger Associates ra đời, công ty tham vấn tư được nhiều khế ước với nhiều quốc gia, nhiều đại công ty và các chính quyền. Mỗi lần gặp Henry Kissinger, các công ty phải trả ít nhất 25,000 mỹ kim, ông còn nắm ảnh hưởng cơ quan truyền thông, tham vấn cho đài truyền hình CBS và ABC.
Quyền lợi lớn nhất của Kissinger đến từ Trung Cộng qua các đại công ty American Express, Lehman, Daewoo, Heinz, Lockheed, Anheuser Busch, Coca Cola v.v…Vì lợi ích cá nhân, TS Henry Kissinger đã làm hại đại cuộc, Hoa Kỳ bây giờ phải đối phó với con cọp Trung Cộng. Sáu tháng trước biến cố Thiên An Môn năm 1989, ông thành lập China Adventure, công ty trách nhiệm hữu hạn với các công ty đầu tư ở Trung Cộng, cho nên khi biến cố Thiên An Môn xảy ra, Henry Kissinger dửng dưng, theo Đặng Tiểu Bình, chống chủ trương cấm vận của chính phủ George H. Bush vì “Trung Hoa giữ một vài trò quá quan trọng cho nền an ninh Hoa Kỳ”.
TS Henry Kissinger là kẻ thù của những người yêu chuộng tự do và dân chủ, ông ủng hộ Trung Cộng, tuyên bố “Không một chính quyền nào trên thế giới có thể đứng yên nhìn hàng chục nghìn người chiếm Quảng trường chính ở thủ đô trong hơn 8 tuần lễ”.
Tiền của Kissinger có máu của những nạn nhân Thiên An Môn và người Việt Nam vì vậy 30 tháng 4 năm 2011 ông đã từ chối dự hội thảo về Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn và đã nói đùa “Nếu thấy tôi đến chắc người Việt Nam sẽ giết tôi!”
Đại tướng William Westmoreland
Hồi tháng 10 năm ngoái, cựu Đại sứ Bùi Diễm gửi cho tôi cuốn sách của Lewis Sorley “để tặng người bạn trẻ cất trong tủ sách”. Nhờ giáo sư Sorley, người giảng dạy môn quân sử trường võ bị West Point, tôi lại tìm thấy một nguyên nhân chính khác gây ra thất trận ngày 30/4/1975: Đại tướng William C. Westmoreland.
Giống như TT Richard Nixon, Giáo sư Sorley đã ca tụng quân đội VNCH chiến đấu anh dũng nhưng vì những lỗi lầm của Tướng Westmoreland mà “thảm cảnh đã xảy ra cho quân đội Hoa Kỳ và nhất là cho cả miền Nam Việt Nam, những người đã hy sinh trong chiến tranh và mất tất cả”.
Tướng William Childs Westmoreland, giòng dõi nhà binh, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1914 tại Saxon, South Carolina, thời chiến tranh Nam Bắc với Tướng Robert Lee, ông là con cưng trong gia đình, người con gương mẫu. Ở trường, ông là học sinh xuất sắc, năng động, nhiều tham vọng, có óc khôi hài, 15 tuổi hoạt động Hướng Đạo được bằng Hướng Đạo Đại Bàng (Eagle Scout), chủ tịch học sinh trong trường trung học, thích đấu quyền Anh (sau dùng chiến thuật đánh võ này áp dụng vào chiến tranh Việt Nam và quân đội VNCH được khuyến khích học quyền Anh). Cuộc đời binh nghiệp của ông thăng tiến rất nhanh từ trường Cao đẳng quân sự ở South Carolina đi lên West Point, tốt nghiệp năm 1936 đã được bạn bè đặt biệt danh là “Xếp” (Chief) như đoán được tương lai ông sẽ là Tham mưu trưởng quân đội. Người cao một thước tám, mũi lớn, lông mày rậm như sâu róm, ông được đồng đội và cấp chỉ huy kính nể. 28 tuổi ông chỉ huy tiểu đoàn pháo binh rồi tham dự chiến tranh thế giới thứ hai ở Casablanca, chịu ảnh hưởng của Tướng Maxwell Taylor, được ông Tướng này đỡ đầu, sau đó qua Anh, đến Normandy 4 ngày sau ngày đổ bộ, thành công ở Đức chỉ huy sư đoàn bộ binh 71, về nhà chỉ huy sư đoàn dù 82. Năm 1950 ông tham dự chiến tranh Đại Hàn, 13 lần nhảy dù gần sông Hàn, xâm nhập qua lằn ranh Bắc Hàn, qua Nhật sau về lại Ngũ Giác Đài làm Tổng thư ký cho Tướng Maxell Taylor tham mưu trưởng (tháng 7 năm 1955). Ông làm việc rất chăm chỉ, thất bại trong kế hoạch chia sư đoàn làm 5 nhóm mỗi nhóm được chỉ huy bởi Đại Tá, nhưng một năm rưỡi sau, 42 tuổi ông là Thiếu tướng trẻ nhất trong quân đội. Tháng 4 năm 1958, sau bốn năm rưỡi ở Ngũ Giác Đài ông chỉ huy Sư Đoàn Dù khét tiếng 101.
Năm 1960, ông chỉ huy trưởng trường võ bị West Point, cải tổ trường, tăng con số sinh viên sĩ quan gấp đôi lên đến 4140. Thiếu trình độ đại học, ông chỉ huy trưởng chịu khó ngồi học lại các môn khoa học căn bản nhưng ông hoàn toàn thiếu sót không học một môn quan trọng trong chiến tranh: khí tượng học. Khuyết điểm này đã có hại về sau, qua những cuộc đụng độ với quân Việt Cộng ở các chiến trường Việt Nam.
Vào thời điểm này, TT John F. Kennedy đến West Point đọc diễn văn năm 1962, đã tiên liệu chiến tranh Việt Nam “chiến tranh du kích, chiến tranh phục kích, xâm nhập làm kẻ thù suy yếu hao mòn để chiến thắng thay vì chiến đấu mặt đối mặt”.
Ngày 3 tháng 12 năm 1963, vị Trung tướng trẻ tuổi nhất trong quân đội Hoa Kỳ được Tham mưu Trưởng Earle Wheeler gởi qua Việt Nam phục vụ dưới quyền Tướng Harkins chỉ huy trưởng quân đội Hoa Kỳ ở VN (COMVS MACV). Sau đó ông thay Tướng Harkins khi ông Cyrus Vance làm Bộ trưởng bộ binh.
Thành công nhanh, con đường binh nghiệp thăng tiến không trở ngại đã biến Tướng Westmoreland thành một con người kiêu ngạo. Ngày qua Việt Nam, Thiếu tướng William Yarborough chỉ huy trưởng trung tâm chiến tranh đặc nhiệm ở Fort Bragg đã dặn ông Trung tướng “Chỉ có hai chục phần trăm đụng độ trên chiến trường, tám chục phần trăm còn lại là chiến tranh ý thức hệ, không có gì vô ích hơn là đại hành quân qua vùng Việt Cộng”.
Lời khuyên ấy bị Tướng Westmoreland bỏ ngoài tai, ông đã có chủ đích khi phục vụ cho Tướng Maxwell Taylor. Khác với quan điểm của TT Kennedy, Tướng Taylor chủ trương đánh thẳng đối mặt với chiến tranh du kích bằng những cuộc chiến nhỏ. Gặp Tướng McArthur ở Nữu Ước, Tướng Westmoreland đã chủ trương đối xử với sĩ quan và Tướng VNCH như là “sinh viên sĩ quan trường võ bị West Point”! Ông Tướng đến Saigon, không gặp Tổng Thống Lyndon Johnson ở Hoa Thịnh Đốn, đặt tổng hành dinh trên lầu cao nhất của rạp Rex (vào ngày Tướng Nguyễn Khánh đảo chánh Tướng Dương Văn Minh) nhìn xuống Saigon “dùng miền Nam VN như phòng thí nghiệm không phải chỉ cho chiến tranh VN mà còn cho các trận chiến du kích khác” (ghi nhận của Trung Tướng Harrold Johnson).
Ngày 20/6/1964, Tướng Harkins về Mỹ, Hoa Kỳ bỏ bom Hà Nội, Hoa Thịnh Đốn không có chiến thật cụ thể ở Việt Nam, để hoàn toàn cho Tướng Westmoreland quyết định. Ngày 1 tháng 8 năm 1964, Đại sứ Maxell Taylor gắn lon bốn sao cho Tướng Westmoreland. Kể từ ngày này, Tướng Westmoreland hoàn toàn không hỏi ý kiến VNCH, chủ trương tăng quân, làm xong nhiệm vụ, giao lại VNCH rồi rút quân
về và tuyên bố chiến thắng. Tướng Westmoreland điều khiển chiến tranh Việt Nam theo kiểu Hoa Kỳ không cần biết chiến thuật chiến lược có phù hợp với điều kiện phức tạp ở Việt Nam hay không. Đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ, ông Bùi Diễm đã nhận định: “Hoa Kỳ chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh Việt Nam tức là trước đó chấp nhận Hoa Kỳ hóa chiến tranh Việt Nam”. Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Ellsworth Bunker đã đồng ý hoàn toàn với câu chơi chữ của ông Bùi Diễm nhưng Tướng Westmoreland xem thường quân đội VNCH “các anh không thể chiến đấu, chúng tôi không muốn các anh cản đường!”.
Tướng Richard Stitwell phê bình “Tướng Westmoreland đã quên phải đánh Việt Cộng ở bất cứ nơi nào chứ không phải nơi trận địa chiến”. Lỗi lầm này của Tướng Westmoreland đưa đến kết quả là từ 1966, quân đội Hoa Kỳ chủ động, quân VNCH giữ vai trò phụ thuộc và bình định hóa nông thôn nhưng Hoa Kỳ không cung cấp vũ khí và tân trang cho quân đội VNCH.
Chiến dịch “lùng địch diệt địch” của Tướng Westmoreland chủ trương: “không đánh bại quân Bắc Việt, chỉ áp lực kẻ thù để giới lãnh đạo Bắc Việt biết họ không thể thắng. Họ phải chấp nhận hai nước Việt Nam hoặc phải thương thuyết”.
Trận đánh đầu tiên mà Tướng Westmoreland muốn, đối đầu với quân Bắc Việt tháng 10 năm 1965 ở thung lũng Ia Drang mô tả trong sách nổi tiếng của Trung tướng Hal Moore và Joe Gallaway “We were soldiers once…and young” sau thành phim với tài tử
Mel Gibson và Đơn Dương. Trung tá Moore lúc ấy chỉ huy tiểu đoàn đã phàn nàn “Westmoreland ra lệnh rút lui trước khi trận chiến kết thúc”. Tỷ lệ tử thương trong trận này là mười quân Bắc Việt trên một quân Mỹ (3,561 / 305). Chiến tranh VN thay đổi bộ mặt từ trận này với tinh thần của dân Mỹ đại diện qua Thượng nghị sĩ Fritz Hollings, South Carolina, cảnh cáo Tướng Westmoreland “người Mỹ không cần biết con số mười, họ chỉ quan tâm đến con số một”.
Ủng hộ và đứng về phe quân đội VNCH chỉ có thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Tướng Victor H. Krulak làm việc chặt chẽ với quân dân chính VNCH đã gây nhức đầu cho Tướng Westmoreland. Điển hình về việc xao lãng tân trang cho VNCH của Tướng Westmoreland là câu chuyện khẩu súng tiểu liên M16. Trong khi quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam được ưu tiên trang bị tiểu liên M16, đại liên M60, súng phóng lựu M79 và máy truyền tin tối tân thì quân đội VNCH vẫn còn trang bị với súng Carbine và tiểu liên Garant M1 nặng chình chịch từ thế chiến thứ II. Ưu tiên tân trang của quân đội Hoa Kỳ ở
VN là ưu tiên một còn quân lực VNCH nằm trong ưu tiên sáu, trong khi đó quân Bắc Việt đã được trang bị vũ khí hiện đại với AK47. Sau trận Mậu thân, Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ và Trung tướng Đồng Văn Khuyên đã phàn nàn thẳng với Tướng Westmoreland. Chính Giám đốc CIA, William Colby cũng phải nói “quân VNCH thiếu trang bị và tối tân hóa để tự vệ trong bốn năm Westmoreland ở VN”.
Chính sự ngạo mạn của Tướng Westmoreland đã làm mọi người chung quanh ông thất vọng. Một câu chuyện nhỏ cho thấy khuyết điểm lớn này của ông. Trong buổi lễ gắn huy chương cao quý Silver star cho Đại tá Nguyễn Văn Toàn (sau là Trung tướng) có sự hiện diện của Đại tướng Cao Văn Viên và nhiều sĩ quan Việt Mỹ. Tướng Westmoreland sau khi mở rượu champagne đã vui miệng “nhiều người quá, chúng ta nên tổ chức thành một buổi họp” bỏ quên cả việc chia vui với Đại tá Toàn cho đến khi Champagne nóng không còn lạnh!
Tướng Westmoreland đã góp phần vào chiến thắng Mậu thân 1968 của Cộng Sản. Trận chiến do Tổng bí thư Lê Duẩn chủ trương không được Tướng Võ Nguyên Giáp đồng ý, đã hoàn toàn bị đánh bại nhưng vì ký giả Walter Conkrite đài CBS tường trình sai và sự tiếp xúc phách lối với báo chí của Tướng Westmoreland mà chiến thắng của VNCH và Hoa Kỳ trong trận Mậu thân trở thành chiến bại dưới cặp mắt của dân Mỹ. Báo chí thiên tả The New York Times ngày ấy hoàn toàn ủng hộ chiến tranh VN đã thất vọng. Tuần báo Time năm 1966 bầu Tướng Westmoreland là “Người trong năm” cũng đổi thái độ.
Sau bốn năm phục vụ tại VN, Tướng Westmoreland về Mỹ, lên làm tham mưu trưởng quân đội. Cuối tháng 4 năm 1968, có 543,400 quân Mỹ ở Việt Nam. Sau thời kỳ Westmoreland, Hoa Kỳ không tăng quân. Trong bốn năm Tướng Westmoreland làm tham mưu trưởng quân đội, tòa Bạch ốc không hề hỏi ý kiến ông về chiến tranh VN trong khi chiến tranh vẫn tiếp diễn! Các Tổng Thống Hoa Kỳ xem Tướng Westmoreland là một lỗi lầm chính trị.
Về hưu, Tướng Westmoreland bị các Tướng lĩnh chê bai về thành tích của ông ở VN, từ Tướng Fred Weyland đến Tướng Norman Shwarzkoft (chỉ huy trận bão sa mạc) “VNCH đã thua vì thiếu tiếp viện và súng đạn” cho đến Đại sứ Maxwell Taylor “Hoa Kỳ hoàn toàn bỏ quên quân đội VNCH”. Sir Robert Thompson chuyên viên du kích người Anh nói “không phải Tướng Võ Nguyên Giáp đánh bại Tổng Thống Johnson mà chính Tướng Westmoreland!” Các sĩ quan cấp tá ở trường cao đẳng quốc phòng đứng lên đả đảo khi ông Westmoreland đến thăm, chưa có ông Tướng tham mưu trưởng nào bị mất uy tín và bi thảm vào cuối đời như ông. Ông mất năm 2005, cuộc đời ông không may mắn như Henry Kissinger dù hai người cùng có lỗi nặng ở Việt Nam.
Ba mươi bảy năm qua, người Việt tị nạn hải ngoại mỗi năm vẫn tưởng nhớ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ở Việt Nam chính quyền Cộng sản không còn tổ chức kỷ niệm chiến thắng của chủ nghĩa Cộng sản, có lẽ vì Hoa Kỳ trở lại vùng Thái Bình Dương hoặc vì năm 2005 ông cựu bộ trưởng hải quân Jim Webb tuyên bố thẳng: “Nếu quý vị còn huyênh hoang, chúng ta hãy dàn quân đánh một trận quyết định xem ai thắng ai thua?”
Việt Nguyên
04/04/2012
Đọc Đường Phía Bắc của Lê Đại Lãng
Ngay sau chiến thắng của phe cộng sản tại Việt Nam tháng Tư năm 1975, một sự kiện bi tráng đã xảy ra và kéo dài liên tục trong hơn 15 năm: đó là cuộc vượt biên của nhân dân Việt Nam nhằm đào thoát ra khỏi chế độ cộng sản.
Cuộc đào thoát thoạt tiên xảy ra tại vùng đất thua trận miền Nam. Từ lâu, dân miền Nam là “bà con gần” với thế giới tự do, cho nên trong cơn hoạn nạn ngay trên đất nước của mình, thì phản ứng tự nhiên là chạy tới tìm nhờ bà con. Cũng từ lâu, khi nói tới vượt biên, hầu hết chúng ta chỉ nghe nói những địa chỉ tới của các con thuyền lén lút ra khơi là Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Phi Luật Tân, Úc. Từ các bến bãi miền Nam, thuyền tị nạn tìm đến các bến bờ vùng Nam Á ấy là lẽ tự nhiên – về địa lý cũng như về sự tin cậy. Thế nhưng đường tị nạn còn một hướng nữa, về phía Bắc, mà hầu hết đều tấp vô bến Hồng Kông. Một số người vượt biên từ các tỉnh cực bắc của VNCH cũ, như Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi có khuynh hướng chạy ngược lên hướng Bắc vì đường gần hơn. Nhưng xem kỹ lại thì đa số người tị nạn trong các trại Hồng Kông có vẻ là những người ra đi từ miền Bắc Việt Nam, là miền đất thuộc phe thắng trận năm 1975.
Có cái gì như là nghịch lý ở đây. Dân thua trận, bị đối xử tàn tệ không sống nổi phải chạy trốn, cái đó hiểu được. Nhưng dân của phe thắng trận cũng chạy trốn là tại làm sao? Câu hỏi này có lẽ được giải đáp lâu rồi: vì chế độ chính trị. Cuộc thắng trận năm 1975 như một trái pháo bông nổ tung sáng rực trong chốc lát, sau đó tắt ngóm và màn đêm lại bao trùm như cũ, kể cả trên miền Bắc chiến thắng. Và lầm than khắp nơi, không kể nam hay bắc. Và có lẽ “theo gương” dân miền Nam, dân miền Bắc cũng ra đi để tìm một cuộc đời đáng sống hơn.
“Đường Phía Bắc”(*) là một cuốn sách thu góp nhiều mẩu chuyện của người vượt biên từ đất Bắc, ghi lại trong cung cách tiểu thuyết hóa để thành một câu truyện mạch lạc các nhân vật có liên kết với nhau. Gọi là đường phía bắc, tác giả có dụng ý đưa ra một hình ảnh đối ngược với đường phía nam là những chuyến hải hành tỏa ra nhắm đến các nước Đông Nam Á, vốn gần với phần phía dưới của nước Việt Nam. Ngược lại, đích đến của đường phía bắc chỉ có một: Hồng Kông.

Người Việt vượt biển tỵ nạn cộng sản trong những năm sau 1975.Getty Images
Thảm cảnh của những chuyến vượt biên thì quá nhiều, nam cũng như bắc. Nhưng từ trước đến nay người ta ít biết cảnh thực của những chuyến vượt biên từ miền Bắc, vì, như tác giả giải bày trong lời giới thiệu đầu sách:
“Con đường ngược bắc của những cá nhân ấy lại được kể thì thầm như tội đồ xưng tội, tội tổ tông, tội bỏ nước, tội đi tìm chỗ sống, chỉ dành riêng cho kẻ muốn nghe, không có tiếng mõ nhịp, chỉ có những bàn chân xếp thành dấu chấm in trên đất trên nước qua vạn dặm hành trình.”
Là người từng làm việc thiện nguyện tại các trại tiếp người vượt biên tại Hồng Kông, tác giả có nhiều dịp được nghe những “lời kể thì thầm” của biết bao là mảnh đời về chuyến hải hành không dài lắm từ vịnh Bắc Bộ đến Hồng Kông. Không dài nhưng không phải là không gian nan và nhiều thảm cảnh, đặc biệt khác hẳn những gì chúng ta vẫn nghe từ các người vượt biên miền Nam, đi “đường phía Nam”.
Cuốn sách mở đầu với một hoạt cảnh đầy kịch tính của một người còn trẻ đóng vai bộ đội đi phép trở về đơn vị đóng ở vùng ven biển, phải đóng thật khéo để có thể vượt qua vô số trạm kiểm soát của công an nhằm bắt giữ bất cứ ai trên các chuyến xe đò có vẻ khả nghi là đi về vùng biển để vượt biên. Với một bút pháp rất nghệ thuật, tác giả đã cho Hải, người thanh niên ấy, có những ngôn ngữ cùng hành vi y hệt một anh bộ đội dày dạn bất cần đời, khiến đám công an đâm “nể” và cho anh ta đi thoát, để câu chuyện vượt biên về phía bắc của anh ta có thể bắt đầu. Và cũng chính hiện tượng canh phòng kỹ lưỡng này của công an cho thấy vào thời điểm kể truyện này chuyện vượt biên đã xảy ra khá nhiều ở các vùng biển miền Bắc rồi.
Chuyến hải hành của con thuyền chở 60 người ra đi trót lọt. Nó đi về hướng bắc một cách chậm chạp hơn người ta tưởng: dự tính bảy ngày sẽ tới Hồng Kông, nhưng hơn mười ngày hãy còn ven biển đảo Hải Nam. Lâu lâu lại tìm cách đổ bộ vào bờ, công an Trung Quốc bắt gặp thì không làm khó dễ gì, trái lại sẵn sàng đi mua hộ dầu và thức ăn, chỉ tuyệt đối cấm người trên thuyền lên bờ. Lần nào họ cũng đếm và ghi lại số người trên thuyền, rồi ra lệnh cho đi tiếp. Vào cuối thập niên 1980, Trung Quốc và Việt Nam còn kình chống nhau, nên họ có vẻ có cảm tình với người tị nạn vượt thoát khỏi Việt Nam. Nhưng họ không nhận người tị nạn, và người tị nạn cũng nhắm tới một nơi khác chứ không phải một nước Trung Quốc cộng sản: họ chỉ cần tới Hương Cảng.
Nhưng đoạn đường không xa ấy cũng có lắm tai ương, và chiếc thuyền vượt biên của Hải đi đã không bao giờ đến đích. Nó bị một cơn bão biển đánh giạt vào bờ và vỡ tan tành. Chuyện kỳ lạ là Hải và đứa con gái còn nhỏ của anh sống sót cùng với vài người bạn thân của anh, và họ lại gắng “mưu sinh” bằng cách đi ăn xin. Rồi đứa nhỏ chết, rồi cơ may lại tới, bọn họ lại nhập vào một đám khác có thuyền, rồi lại lên đường. Chúng ta ít khi nghe được lời mô tả những hãi hùng của một trận bão biển, vì người đã trải qua thì ít khi còn trở về được để kể cho chúng ta nghe. Thảng hoặc có sống sót trở về thì cũng khó có đủ ngôn từ để diễn tả cơn thịnh nộ của biển khơi, vì nó vượt khỏi các ý niệm và ngôn ngữ thông thường của con người ở trên mặt đất.
“Cái hình rẽ quạt từ trên trời càng lúc càng tỏa rộng, như năm ngón tay quái thú úp chụp xuống những con người bơ vơ bé nhỏ. Trong tích tắc, thuyền bị sóng nhồi lên đến tuyệt đỉnh cao, cao đến mức không thể cao nữa, rồi từ đỉnh cao ấy, vụt xuống một thung lũng bốn bề là nước đen dựng thành tường. Tiếng ré kinh hoàng của tất cả bị hút ngay vào bức tường đen, mất biệt, như sự thẩm âm tuyệt hảo nhất do tạo hóa cấu thành. Từ đỉnh sóng xuống vực sâu, rồi từ vực sóng thuyền tung lên đỉnh sóng, Hải nghe tiếng hét thất thanh của lão Mục:
-Con…ơi ơi…!
Tiếng hét xoáy tít vào tiếng nước reo hăm hở, ác độc. Thần biển đang hể hả xoa tay, chờ từng sinh mạng nạp mình. Trong giây phút ấy, lạ thay bé Ngọc vẫn trừng mở mắt, nhìn chằm chằm bức tường nước sùng sục quanh thuyền. Hải ôm chặt con, chàng nhìn thấy bóng dáng Đức Phật, chàng nhìn thấy thánh giá của Chúa Giê su, chàng nhìn thấy hồn thiêng của cha mình sừng sững trên sóng, dưới vực thẳm, đang nắm tay nhau kết thành vòng tròn lớn, cùng ca hát bài ca luân hồi sinh tử. Hải trừng mắt. Chàng muốn thấy kỹ cái tích tắc vô thường mà đời người không tránh khỏi. Chàng sắp dắt con xuống yết kiến thủy thần. Chàng sẽ cười khà vào mặt lão già có chòm râu bạc lướt thướt và đôi mắt buồn thăm thẳm:
-Ông đã thắng!
-Ta lúc nào cũng thắng.
-Trẻ thơ có tội gì?
-Trót sinh ra làm người.
-Tôi đi tìm đất sống.
-Đất nào sống được nói ta nghe.
-Không phải nơi tôi được sinh ra. Nơi tôi có quyền ca khi hoa nở, nơi tôi có quyền khóc khi tôi muốn và nơi không có lão già râu bạc như ông.
-Ha…ha…ngươi tưởng không có người như ta là ngươi sống được ư…ha…ha…ta cho ngươi thấy.
Thủy thần vụt tan ra thành xoáy nước, vỗ tay reo. Lão cong mình thành một ngọn sóng, ngọn sóng dài hơn chiều dài của chiếc thuyền chở Hải. Lão trườn lên lặn xuống không biết bao nhiêu lần. Đột nhiên, lão đổi trò chơi, lão xoay tít trên không gian đen như vũng nước trâu nằm, hất tung cả chiếc thuyền lao vào hư vô nín lặng…”
Nhưng qua các tai biến với vô số tình cờ, chúng ta biết thêm được một số điều, không phải chỉ trên biển cả, mà ở trong nước Tàu. Trước hết là thảm cảnh của cuộc “nạn kiều” xảy ra cho số người Hoa Kiều bị nhà nước Việt Nam đuổi về Tàu mươi năm trước. Họ là những người Tàu sinh sống ở Việt Nam đã lâu đời, bỗng vì sự xích mích giữa hai nước mà phải biến thành nạn kiều, phải dứt bỏ sản nghiệp lẫn đời sống tinh thần tình cảm đã xây dựng trên đất nước Việt Nam để về cố quốc, một thứ “nước cũ” nghèo nàn nay đã thành xa lạ đối với họ và cũng chẳng hào hứng gì để đón họ trở về. Vì thế nên mới có cảnh:
“Cái vẻ trù phú của cảng Hải Bắc chỉ làm tăng nỗi bơ vơ lạc lõng của nạn dân nạn kiều sống trên bãi biển. Ngoại trừ một nhà thương thí do Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc thành lập năm 1979, các nạn kiều bị đuổi về nước năm 78 chẳng được hưởng một quy chế gì rõ ràng. Đầu tiên, họ được bố trí lên các nông trường ở tỉnh Quảng Tây. Chịu không nổi đời sống ở đó họ trốn về miền biển và cắm lều sống trên bãi cát bằng nghề đánh cá. Họ làm vệ sinh cá nhân ngay trên bãi, lấy cát lấp lại chờ sóng lên dọn sạch. Nhóm nạn kiều sống ở Bắc Hải đã bị lãng quên hoàn toàn. Không ai cần biết đến họ và họ cũng chẳng trông chờ vào ai. Lương thực của họ là biển cả mênh mông (tê tái) ngoài xa kia. Trung Quốc coi họ là nạn dân người Việt, nhà nước Việt Nam lại coi họ là nạn Kiều. Sức ép của hai thể chế đẩy những người này ra tận mé nước và không thể ra xa hơn được nữa. Những đứa trẻ sinh ra trên cát nóng chờ ngày theo cha mẹ ra khơi bắt cá. Không một ngôi trường nào chịu chứa những đứa trẻ sinh nhầm đất nước ấy.”
Không đi vượt biên về hướng Bắc thì làm sao đám người Việt này gặp được một cái thành phố ma với bốn kỳ nhân ở trong đó từ thời cách mạng Vệ Binh Đỏ, những chuyện lạ lùng đã xảy ra giữa thế kỷ 20. Từ thuyền họ thấy có một thành phố trên bãi biển bèn tấp vào kiếm ăn. Nhưng khi bước lên bờ họ mới nhận ra đó là một thành phố không có người ở. Và khi “thám hiểm” vào trong, họ gặp một cái nhà với bốn người ở, có thể gọi là bốn quái nhân, những linh hồn sống duy nhất của thành phố bỏ hoang này. Một người tương đối còn lành lặn nhất là Hồng lão, hồi 1966 là giáo sư đại học Thanh Hoa, bị vệ binh đỏ hành hạ rồi đưa đi tập trung lao động, cuối cùng về đây, một công trường cải tạo, nhưng về sau mọi người bỏ đi hết, chỉ còn lại bốn người không biết về đâu. Người thứ hai là một bác sĩ y khoa, với một câu chuyện ly kỳ, tàn khốc:
“Tôi ngồi trong nhà mà run sợ. Vì tôi là trí thức hành nghề theo học thuật phương Tây thì ắt là hữu khuynh tư bản rồi. Thình lình, cánh cửa nhà cha mẹ tôi bị đạp tung, một đội Vệ binh Đỏ tay cầm gậy gộc xông vào. Chúng dõng dạc tuyên bố gia đình tôi thuộc thành phần trí thức tư sản, rồi xông vào đập phá đồ đạc. Chúng giựt tranh treo tường, đập tủ chén, xô ngã bàn thờ, không còn một thứ gì còn gọi là nguyên vẹn. Thậm chí chiếc áo có thêu kim tuyến của mẹ tôi cũng bị kết là tư sản, chúng lấy kéo cắt nát. Cha mẹ tôi, em trai tôi và tôi nữa bị chúng bắt quì gối ngay giữa phòng trước. Sau đó, chúng xởn hết tóc chúng tôi, còng tay và dẫn đi diễu phố. Hết ngày, chúng dẫn về, lấy roi da đánh đập chúng tôi ngất đi rồi mới bỏ đi, không quên khóa trái cửa căn nhà. Gia đình tôi là kẻ thù của nhân dân.”
Ở một đất nước mà từ nghìn xưa đã có những hiền triết nêu cao chữ Nhân như một khám phá bản chất cao đẹp của con người, mà nay lại được điều hành bởi một bạo chúa mác-xít hoàn toàn vô nhân, đẩy con người vào những trạng thái không thể tưởng tượng nổi:
“Trong suốt bốn ngày, chúng tôi không có gì để ăn. Chén bát đã bể hết. Chỉ còn ít mì gói nhai sống. Chúng tôi sợ hãi và đói khát. Sáng sớm hôm sau chúng nó lại tới, lại hành hạ, lại đi diễu phố, lại bị đánh bằng roi da. Trời ơi, đảng ơi…!
Điện đã bị cúp hết. Căn nhà tối mù. Bên ngoài mưa rơi nức nở. Chúng tôi ngồi nghĩ đến cái chết. Phải rồi, sao không chết đi để hết nhục, để bớt đau khổ thấy mình thua cả chó. Chắc là đã quá nửa đêm. Tiếng mưa rơi tê tái quá! Làm sao để tự ải đây? Cha tôi suy nghĩ, mẹ tôi suy nghĩ, còn tôi thì nát óc. Đứa em trai trên gác thượng chắc cũng đang suy nghĩ. Thình lình tôi nhìn thấy con dao rọc giấy ở chân bàn. Bọn Vệ binh Đỏ hẳn đã làm rơi nó. Trời đã gửi thiên sứ xuống. Tạ ơn trời. Tôi là bác sĩ. Tôi biết là nếu động mạch cổ bị cắt thì các mạch máu sẽ ngưng hoạt động và người ta chết tức khắc, chết tức khắc, chắc chắn như thế. Đây là cách chết nhanh nhất và vô phương cứu chữa. Cha mẹ tôi chưa tin hẳn vào lời giải thích của tôi. Người hỏi có đúng là chết dễ như thế không? Tôi phải lấy bằng bác sĩ ra để đảm bảo với người là chắc chắn như thế. Cuối cùng mẹ tôi bảo: ‘Tạ ơn trời, sao lại dễ thế được. Tạ ơn trời đã ban cho tôi đứa con học ngành y’. Người nói hoài như thế, mắt long lanh sung sướng. Cha tôi bảo: ‘Con là người duy nhất biết việc, vậy hãy cắt cổ cha mẹ trước rồi hãy tự cắt cổ con’.”
Kể ra, đi vượt biên mà có những cuộc gặp gỡ ly kỳ, mang lại những hiểu biết lạ lùng như thế này thì cũng… đáng công khó. Trên thế giới giữa thế kỷ 20 hẳn không ở đâu có được những chuyện tương tự như thế của nước Tàu.
Trải qua tất cả những thảm cảnh cùng cực cho một đời người, cuối cùng Hải cũng đến được vùng đất hứa, là thành phố Hương Cảng. Trong trí tưởng tượng của người vượt biên, đó là tự do, là thiên đường, nhưng đầu tiên họ phải vô các trại tiếp cư, mà thực chất là nhà tù. Sống dưới chế độ nghèo khổ và bị tước đoạt hết quyền làm người của chủ nghĩa cộng sản, người ta háo hức ra đi để tìm một đời đáng sống hơn, và tưởng rằng phần nhân loại còn lại có bổn phận “phải” lo toan mọi việc cho họ. Đúng là có những tổ chức để lo toan, nhưng không xuể, vì lo được một thì người ta kéo đến mười. Tiếng réo gọi của Tự Do thật là thần bí. Tiếng réo gọi của một đời sống sung túc xứng đáng với phẩm giá cũng mạnh mẽ lạ thường. Cũng làm thân con người, sao ở nơi kia người ta sung sướng, còn tôi thì quá nhục nhằn? Sao tôi không thể chuyển đổi đời sống của tôi? Cái bến bờ xa xa kia đã hớp hồn bao nhiêu người Việt Nam vào nửa sau thế kỷ 20, miền Nam thì có đường phía nam, miền Bắc thì có đường phía bắc.
Tác giả Lê Đại Lãng đã có công và có lòng ghi lại các câu chuyện, các hoạt cảnh của con đường vượt biên của đồng bào miền Bắc, miền đất đã chiến thắng trong cuộc chiến vừa là tương tàn giữa những người con cùng một mẹ, vừa là giữa hai ý thức hệ chia đôi thế giới trong thế kỷ 20. Văn tài của ông đã tạo dựng lại biết bao số phận, biết bao thảm cảnh, biết bao nỗi hy vọng lẫn thất vọng của những con người Việt Nam bao năm chôn vùi trong chế độ toàn trị vừa hé mắt nhìn thấy ánh sáng của tự do xa xa ở phía chân trời, và đã nung nấu cái khát vọng phải đến cho được nơi chân trời đó. Con thủy lộ không dài giữa vịnh Bắc Bộ đến Hồng Kông cũng ngầm chứa bao hiểm nguy chết người, và quả đã giết vô số người sử dụng nó với những phương tiện quá mỏng manh. Cuốn Đường Phía Bắc là một kho chứng liệu sống của ý chí vượt khỏi địa ngục với tất cả thảm cảnh của nó.
Người điểm cuốn sách này biết là mình chưa làm hết công việc giới thiệu toàn bộ tác phẩm trong bài viết này, vì chỉ mới nói chuyện đi đường mà chưa đề cập chuyện đến nơi. Khi đến nơi thì câu chuyện đã có một không gian khác, tinh thần khác, và chất chứa những cái ly kỳ khác. Vậy đành khất với độc giả trong một bài viết khác.
Thứ Sáu 13 tháng 4, 2012.
PHẠM XUÂN ĐÀ
(*) Đường Phía Bắc, giá sách U.S.A 15.00 dollars, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:
Toà soạn báo Trẻ
3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044.
ĐT: 972-675-4383/ Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Giới trung lưu VN trên đường xuống dốc
Lâu nay người ta vẫn tưởng rằng chỉ có dân rách ngày càng rách. Các doanh nghiệp đóng cửa hàng loạt, công nhân thất nghiệp gia tăng, khi nhiều người, nhất là nam nữ thanh niên lâm vào bước đường cùng, không còn cách gì kiếm ra tiền thì tệ nạn càng gia tăng với đủ mọi hình tội phạm. Cướp của giết người giữa ban ngày, buôn lậu ma túy, bán dâm, cờ bạc, lừa đảo… là những thứ đã làm các tòa án và nhà tù “quá tải”. Bắt đám này chưa xong đã tiếp đến hàng chục vụ án khác, pháp luật gần như bó tay. Tội phạm càng ngày càng “trẻ hóa” hay nói cho rõ hơn là những kẻ phạm tội ác bây giờ rất trẻ. Rất nhiều cô cậu chưa đến tuổi vị thành niên, chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong những vụ trọng án.
Nhưng đấy là tình trạng về những người thuộc “giai cấp không có đồng xu dính túi”. Xã hội đẩy họ vào đường cùng. Đó là chuyện ai cũng biết. Nhưng có điều bất ngờ nữa là bây giờ ở VN, ngay cả đến những nhân vật được coi là “giai cấp trung lưu” có tí của ăn của để cũng đang gặp cảnh… ba đào. Họ cũng đang bị “nghèo hóa”. Tất nhiên, dân trung lưu ở đây là những người làm ăn lương thiện, chứ không phải những vị trung lưu có vây có cánh, không phải những ông bà có chức tước, có bổng lộc ngoài lương tháng của mình. Những ông bà trung lưu này còn lâu mới xuống cấp được.
Những nhân vật được coi là trung lưu hay còn được đời xưng tụng là những “tiểu gia” làm ăn chân chỉ đang xuống dốc “không phanh”. Có người nói rằng dân nghèo có tí đất bị mua rẻ bán đắt hoặc bị trưng dụng, quy hoạch hết rồi, chẳng còn gì để … có thể nghèo hơn được nữa, bây giờ đến lượt những anh có tí của để dành đang trên đường đi xuống. Chúng ta hãy nhìn vào cách sinh hoạt của một số “tiểu gia” đã từng tậu được chiếc xe hơi loại khá “xịn” mà họ coi như “vợ hai” để có thể thấy rõ hơn.
“Tiểu gia” chạy vạy để được đi làm thuê
Lời lẽ nhã nhặn, ăn mặc lịch sự, thậm chí còn xài đầy đồ hiệu nhưng nhiều “tiểu gia” đã từng làm chủ chiếc xế hộp sang trọng vẫn phải mướt mồ hôi chở khách thuê để kiếm tiền trang trải cuộc sống. Chưa đạt đẳng cấp đại gia nhưng những người đã từng chơi xe hơi hay trang trại cũng được xem là “tiểu gia”. Thời gian gần đây, vì kinh tế khó khăn, thu nhập sụt giảm nên không ít “tiểu gia” buộc phải lấy xế hộp đi chở khách hay cho thuê trang trại làm nhà nghỉ để kiếm thêm tiền.
“Vợ hai” nuôi vợ cả
Những ngày qua, diễn đàn Otofun tại VN luôn sôi động với forum quảng cáo cho thuê xe kèm tài xế của một vị có nickname là Lữ Khách. Ông này có lời mời nghe rất ngọt ngào, dễ thương: “Em dạo này rảnh rỗi, tính vận chuyển các cụ nhà mình có nhu cầu, nhằm chống lại các loại phí. Thiết bị phục vụ là xe Ford Mondeo 2005, 3 màn hình phục vụ các cháu có nhu cầu xem Tom và Jerry, nội thất luôn bảo đảm sạch, đẹp. Tài xế là em, trung thực, thật thà, cực kỳ cẩn thận, hơi biết tin tức thời sự. Nước uống đóng chai tinh khiết và giấy thơm miễn phí cho các cụ có nhu cầu”.
Lập tức, hàng loạt hội viên khác của diễn đàn đã vào đặt hàng thuê “tiểu gia” có xế hộp “xịn” phục vụ. Đáp lại, Lữ Khách bày tỏ: “Cảm ơn các cụ nhiều, hoàn cảnh khó khăn đã đẩy em vào bước đường này. Vì quá yêu “vợ hai” (cách gọi chiếc xe hơi trên diễn đàn) nên em đành dùng cách này để níu kéo thời gian ở bên em nó và nuôi vợ cả”. Cũng trên diễn đàn này, nickname Damthi giới thiệu là phó giám đốc một công ty rồi thăm dò: “Xe em là Civic 2.0. Chi phí trên đường: xăng dầu, ăn, ngủ, nghỉ, vé đường... các cụ chịu, một ngày trả em được bao nhiêu?” Một giám đốc doanh nghiệp có Toyota Camry 2.5 cũng lên diễn đàn này rao cho thuê xe khi tài xế riêng và xế hộp rảnh rỗi để kiếm thêm tiền chi phí hàng ngày.
Chuyến mở hàng đầu tiên của bác tài bất đắc dĩ mang tên Lữ Khách là Hà Nội - Hải Dương. Xem ra làm ăn trôi chảy. Thừa thắng xông lên, Lữ Khách tiếp tục mời mọc: “Để phục vụ tốt nhất và tránh lỡ việc của quý khách, mong quý khách báo trước một ngày để người phục vụ này thu xếp công việc ở cơ quan trước khi lên đường”.
Một ông có nickname T.A., hiện là viên chức còm của một cơ quan cũng chen chân vào quảng cáo: “Em cũng làm thêm phục vụ các cụ nhé! Toàn xe của anh em làm thêm kiếm tiền trong lúc kinh tế khó khăn.” Ngay lập tức, T.A. đã nhận được hợp đồng chở “thượng đế” đi tảo mộ ở Hòa Bình với giá 1,1 triệu đồng, trừ chi phí cũng bỏ túi được 500.000 đồng. Tiếp sau đó, một hợp đồng chở khách đi Hà Nam cũng đem về cho T.A. được 400.000 đồng.Cùng cảnh khó khăn, nickname Lam có xe Morning 2011 màu trắng cũng lên diễn đàn tìm khách và “bắt” được ngay một người thuê chạy khứ hồi Hà Nội – Bắc Ninh. Lam khoe: “Trừ chi phí, mình cũng kiếm được trên 400.000 đồng góp vào tiền trang trải phí giữ xe, xăng dầu, nợ vay ngân hàng hằng tháng. Do xe nhỏ, giá “mềm” nên em Morning của mình đã nhận được gần 10 đơn đặt hàng từ nay đến qua lễ Lao Động 1-5.”
Trang trại cũng cho thuê kiếm tiền
Trên diễn đàn, trong những ngày qua ngoài việc “tiếp thị” cho thuê xe hơi và tài xế “xịn đáng tin cậy” lại rôm rả với một forum cho thuê trang trại. Để đối phó với hàng loạt khó khăn, nickname Tromtrau đành bấm bụng rao cho thuê trang trại mà anh và gia đình phải mất nhiều năm và tiền của, tâm huyết mới gầy dựng được. Tromtrau giới thiệu: “Năm nay kinh tế suy thoái, kiếm tiền khó khăn, em cho thuê cái nhà nghỉ cuối tuần với mục đích bù được phần nào chi phí vận hành, bảo dưỡng. Trang trại của em có diện tích 4.000 m2, gồm sân vườn - ao cá, 5 phòng ngủ, bể bơi…”
Không bao lâu sau, lời rao của Tromtrau đã nhận được hàng trăm phản hồi ủng hộ và đặt thuê phòng hoặc cả trang trại. Với mức giá thuê 2 ngày cuối tuần là 3 triệu đồng, được toàn quyền sử dụng cả trang trại và ngày thường là 2 triệu đồng, cơ ngơi của Tromtrau tỏ ra cạnh tranh hơn hẳn so với các resort gần đó nên đã kín khách ghi tên thuê vào tất cả ngày nghỉ cuối tuần từ nay cho đến tháng 7-2012.
Tình cảnh này nói lên điều gì?
Chắc bạn đọc thừa hiểu rằng những ông đã tậu được xe hơi ở VN vào thời gian sau này được coi là dân “có máu mặt”. Họ làm ăn lương thiện, họ có quyền mua sắm theo nhu cầu và chơi theo ý mình. Con số này không phải là ít. Và tất nhiên, người ta chỉ tìm đường đi lên chứ không ai muốn đi xuống cả. Nhưng nền kinh tế ngày càng khó khăn, buôn bán làm ăn lương thiện chẳng dễ dàng chút nào. Tiền không còn đẻ ra tiền một cách… hiên ngang nữa. Và đồng tiền cứ mất giá, vật giá cứ leo thang, ôm cái xe hơi hay cái trang trại mỗi tháng phải nuôi nó một khoản tiền lớn. Nào là thuế, nào là phí, tiền thuê bến bãi, nào là bảo trì, bảo dưỡng, Nuôi một cái xe mỗi tháng tốn thêm vài ba triệu, nuôi một trang trại để hưởng nhàn thì con số năm bảy triệu còn là ít. Mùa khô phải tưới tắm, mùa nắng phải làm cỏ, phân bón lu bù, sâu bệnh mỗi cây một khác, phải chăm sóc nâng niu từng khóm hoa bụi cây, đúng là tốn như… nuôi “vợ hai”. Chủ nhân nếu không có tiền “ngoại” kiếm thêm thì chắc chắn sẽ không tài nào chịu nổi. Cho nên các “tiểu gia” đành mang thân đi làm mướn, dù là làm mướn theo kiểu “thượng lưu” chứ không phải là “ô sin”. Khách và chủ đều coi nhau như bạn nhưng bổn phận “ô sin” vẫn phải làm
Kể về công việc làm thêm của “tiểu gia”, anh T.A. tâm sự: “Việc chọn khách là hết sức quan trọng để bảo đảm an toàn và tôn trọng lẫn nhau, cũng như giữ được ‘vợ hai’ không bị làm bẩn, trầy xước. Căn cứ để lựa chọn khách là hội viên trên diễn đàn, là người quen hoặc có giới thiệu, đặc biệt ưu tiên chở chị em phụ nữ, gia đình đi lễ chùa, về thăm quê… Cả khách và tài xế đều… trí thức cả nên tôn trọng nhau. Có khi chở khách lại có thêm bạn, được giao dịch và công việc. Giá cả rẻ hơn taxi, xe lại đẹp, không có mùi hôi và tài xế nhẹ nhàng, lịch sự, biết nhiều chuyện nên đủ làm ‘thượng đế’ vui lòng.”
Tuy nhiên, với nhiều “tiểu gia”, việc phải chạy vạy làm thuê đã để lại nhiều nỗi niềm khó tả. T.A. cho biết anh luôn có cảm xúc ngượng ngập vì lâu nay chỉ quen được người khác phục vụ, giờ phải xuống xe mở cửa cho “thượng đế”, phải hỏi khách có say xe không, có cần bật máy lạnh không…
Chủ xe T.A. thổ lộ: “Phải mướt mồ hôi bưng bê, thu xếp hành lý, đồ đạc, rồi chầu chực chờ hàng giờ, miệng liên tục ‘cảm ơn’ và cái lưng thì đau ê ẩm bởi cả ngày ôm vô lăng trên quãng đường dài mấy trăm cây số.” Một “tiểu gia” khác, đang là “cổ phần” của một doanh nghiệp, được chủ công ty phong cho chức Phụ Tá Giám Đốc, cũng cố sắm được chiếc xe hơi cho ra dáng Ban Giám Đốc. Nhưng không ngờ, một buổi sang đẹp trời, anh chủ bỏ trốn mất nên chỉ ngày trước ngày sau trở nên thất nghiệp. Bí quá anh cũng nghe lời bạn bè mang xe đi chạy thuê. Anh tâm sự: “Chỉ quen ngồi bàn giấy, nay trở thành người lao động chân tay đã khiến tôi phải trải qua một ngày toát mồ hôi. Khách về quê mang không ít đồ nên phải mang lên, bê xuống, nhồi nhét vào cốp... Mệt hơn nữa là khi khách ở quê trở ra, tôi một phen bở hơi tai với bao gạo mấy chục ký, cùng với hàng mớ rau, củ, quả…, phải mang vác ra vào ngõ dài gần trăm mét. Lo nhất vẫn là sự an toàn trên đường bởi ngoài mình ra còn cả gia đình khách, lơ mơ là bán cả nhà đền cũng không xong, chả biết tôi còn theo đuổi cái nghề nửa ông chủ, nửa ‘cu ly’ này đến bao giờ! Nhưng bỏ việc này thì biết làm gì trong cái thời người khôn của khó này?”
Lúng túng với lãi suất ngân hàng
Ông “tiểu gia” than thở: “Nếu bán xe, thu vén tiền để dành, mang tiền gửi ngân hàng bây giờ cũng bị ‘khống chế’. Mới tháng trước lãi suất đầu vào giảm còn 13%, nghe tuyên bố um xùm rằng mỗi quý giảm lãi suất 1%, vậy mà chưa đầy 1 tháng sau, nay lại hạ xuống còn 12%. Ông Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) nhanh chân thật, làm cho người dân có cảm tưởng bị ép. Ép thế nào thì dân phải chịu thế. Thấy dân ngoan ngoãn thi hành, được thể, ông NHNH làm tới. Có ông phòng xa: ‘Tiền mất giá, chưa biết chừng vài năm nữa, số tiền bán cái xe bây giờ chỉ còn mua được cái bánh xe. Lỗ trắng máu!’.”
Trong khi đó, các doanh nghiệp (DN) lại tỏ vẻ thờ ơ trước quyết định giảm lãi suất đầu vào của NHNN. Họ cho rằng theo kinh nghiệm từ khi lãi suất giảm 14% cho tới nay, phần lợi trước mắt là chủ các ngân hàng, chứ không phải doanh nghiệp. (Về chuyện này, tôi đã phân tích và đề cập trong bài “Chuyện cũ như trái đất, mang ra xào lên, bàn lại” ngày 05-tháng 11 năm 2011). Vấn đề cốt lõi là khống chế lãi suất đầu ra, kiểm soát chặt chẽ việc NH cho các DN vay chứ không phải ép lãi suất đầu vào.
TS Lê Xuân Nghĩa, nguyên phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, nhận xét:
“Với lãi suất huy động 12%/năm, nếu các NH tiết giảm chi phí, lãi suất cho vay phải hạ về mức 15% - 16%/năm nhưng thực tế DN đang vay với lãi suất từ 18% - 19%/năm. Trong khi DN phá sản hàng loạt thì lợi nhuận NH ngày càng tăng…. Như vậy là DN chới với, NH sống khỏe. Ông nói: “Rất khó coi khi hiệu quả hoạt động của DN thấp, khó khăn chồng chất, hàng tồn kho cao còn khu vực NH lợi nhuận lớn, tỉ lệ lợi nhuận tính trên vốn tự có của một số NH lên tới 20%.”
Nhiều “tiểu gia” hào hứng tham gia vào câu chuyện thời sự đang rất nóng về lãi suất ngân hàng này. Họ chưa có phản ứng rõ ràng nhưng dư luận râm ran trong giới này vì chính họ là những khách hàng “gốc” làm phình ra hay làm xẹp lép túi tiền của hầu hết NH trong nước. Chưa thể tiên đoán phản ứng của giới trung lưu sẽ ra sao trong những đợt giảm lãi suất sắp tới. Chung quy giới trung lưu đang lúng túng về chuyện lãi suất ngân hàng, nên rút hay nên gửi, nên tìm cách đi đêm với NH hay tìm đường đầu tư khác? Quyền lợi của họ gắn liền vào món tiền dành dụm đó. Chúng hãy chờ xem kết quả thực sự đi tới đâu.
Tiểu gia gục ngã trên đống tài sản của mình
Trở lại với sư đi xuống của các “tiểu gia” trên đường kinh doanh. Bỏ qua các doanh nghiệp mượn vốn không xong đành phá sản, chúng ta hãy nhìn vào các doanh nghiệp còn đang “thoi thóp” trên đống của cải do chính mình làm ra. Nhiều doanh nghiệp co cụm, phá sản không chỉ do lãi suất quá cao mà còn do sức mua của thị trường quá thấp. Hàng làm ra không bán được khiến doanh nghiệp gục ngã trên đống tài sản. Tình trạng này xảy ra ở nhiều lĩnh vực và đi từ nhà sản xuất đến nhà phân phối, bán lẻ.
Một thí dụ cụ thể như hiện nay doanh nghiệp thép chỉ chạy 50-60% công suất thiết kế, thậm chí có ít nhất sáu doanh nghiệp đã ngừng sản xuất vì hàng bán không được. Lượng hàng tồn kho ùn đọng khiến nhiều doanh nghiệp như ngồi trên đống lửa, còn các đại lý nhập hàng về nhỏ giọt, nhiều đại lý không cầm cự nổi phải bỏ nghề...
Đã quá trưa nhưng tại một đại lý phân phối sắt, thép lớn có tiếng trên đường Lý Thường Kiệt (TP.HCM) vẫn vắng hoe không một bóng khách. Đứng trước đống sắt, thép tồn kho nhập về nhiều chủng loại như: Pomina, Việt Nhật, Miền Nam... đang phủ bạt kín giữa kho, bà Trần Thị S. - chủ đại lý - lắc đầu ngao ngán: “Ế ẩm quá! Mặc dù đã bước vào mùa xây dựng nhưng sức mua vẫn giảm 30-40% so với năm ngoái. Năm ngoái lỗ nặng rồi, năm nay còn nặng hơn năm ngoái!”. Đến cả số người bốc xếp của kho này trước có 15 người, nay không bán được chỉ còn lại ba người mà có ngày cũng không có việc để làm.
Ximăng cũng cùng chung “số phận” với sắt thép. Người mua quá ít khiến các đại lý phân phối ximăng của Hà Tiên 1, Sông Gianh, Holcim, Nghi Sơn, Cẩm Phả, Hạ Long... đang phải “dở khóc dở cười”.
Tại kho hàng của vựa ximăng Thành Long trên đường Vạn Kiếp (Q. Phú Nhuận), bà Mai - chủ vựa - cho biết thời điểm này năm ngoái một tuần bà có thể bán được 800 bao, “nhưng giờ bán được 35-40 bao/tuần”. Kho hàng vốn chứa được trên 2.000 bao ximăng của bà Mai giờ rộng thênh thang, bà chỉ nhập hàng khi nào các công ty ximăng hạ giá hoặc khuyến mãi.
Các chủ cửa hàng nội thất trên đường Ngô Gia Tự (Q.10), Cộng Hòa (Q.Tân Bình)... cũng cho biết tình trạng buôn bán ế ẩm chưa từng thấy. Nhiều cửa hàng treo biển giảm giá 10-30% nhưng khách chẳng buồn nhìn tới.
Sáng bán vật liệu, chiều bán gà nướng
Kho hàng của Công ty cổ phần Phương Nam (đường Phan Xích Long, Q.Phú Nhuận) từng là nhà phân phối lớn của Ximăng Sông Gianh nay chỉ còn lại bãi đất trống được bao kín tôn xanh. Cạnh đó, kho hàng của Công ty Ngọc Thanh chuyên bán ximăng của Vincent và Hà Tiên 1 cũng ảm đạm không kém.
Cả khu kho hàng rộng gần 200m2 của công ty giờ chỉ còn lại vài bao ximăng, một ít gạch, cát. Phía ngoài cổng, chủ công ty phải rao bán chiếc xe tải thường dùng để chuyên chở ximăng cho khách. Còn phía trong cổng là nơi để chiếc xe đẩy bán khoai tây chiên, chân gà nướng của một người nhà trong công ty. Một người dân ở đây cho biết: “Sáng thấy công ty bán vật liệu xây dựng, còn chiều thấy bán chân gà nướng, khách đến ăn chân gà nướng thì nhiều mà đến mua vật liệu thì không thấy!”
Công ty bất động sản của ca sĩ Nguyễn Phi Hùng bán phở kiếm sống
Từng mọc lên như nấm sau mưa ở giai đoạn thị trường bất động sản (BĐS) ăn nên làm ra, nhiều công ty môi giới BĐS hiện nay chuyển sang bán... phở, chăn nệm, nước giải khát... Một số công ty xây dựng, đầu tư BĐS cũng đối diện với nguy cơ “chết trên đống tài sản” do khoản nợ quá lớn. Hàng loạt công ty hiện vẫn còn giữ lại cái tên nhưng thực chất đã “chết lâm sàng” hoặc chuyển đổi ngành nghề.
Hơn 8g sáng ngày 26-3, sàn giao dịch BĐS Ng. Phi Hùng (tại 470 Nguyễn Thị Thập, P. Tân Quy, Q.7, TP.Sài Gòn) dù đã mở cửa nhưng chưa thấy mặt nhân viên nào. Mặt trước của công ty là một tiệm phở với bàn ghế bày biện la liệt. Đây là sàn BĐS từng nhận được nhiều sự chú ý không chỉ của giới BĐS mà rất nhiều người khác, do được ca sĩ Nguyễn Phi Hùng đứng tên và đưa vào hoạt động giữa năm 2009. Gần 9g, các nhân viên của sàn BĐS Ng. Phi Hùng mới có mặt để... bán phở.
Tại một “chợ” địa ốc khác trên đường Cao Thắng nối dài (Q.10), hàng chục công ty BĐS mọc lên vào năm 2007 đến nay cũng đóng cửa gần hết. Danh sách các công ty BĐS “chết trẻ” có thể kể hàng loạt như Cổng địa ốc Sài Gòn, BĐS Cộng Sự, BĐS Đất Giàu, BĐS Đất Giàu Sài Gòn... Tính riêng trên đường Trần Não có đến 98% các công ty, văn phòng môi giới BĐS đóng cửa do ế ẩm.
Nhìn sơ lược qua cung cách làm ăn và sinh sống của giới được gọi là trung lưu hiện nay ở VN, bạn đọc đã hình dung ra con đường xuống dốc của họ đang diễn ra như thế nào. Giai cấp trung lưu đang nghèo đi hay chỉ là giai đoạn khó khăn? Những “cái chết lâm sàng” hay chết thật, những ông chủ đi làm thuê “thượng lưu” tạm thời hay làm thuê mãi, chưa ai có thể trả lời câu hỏi này.
Văn Quang
13-4-2012
Hình 1: Một “tiểu gia” bên “vợ hai”.
Hình 2: Trang trại được Tromtrau rao cho thuê.
Hình 3: Nhiều doanh nghiệp bất động sản phải chuyển nghề bán phở, nước giải khát
Hình 4: Doanh nghiệp Tường Nghĩa (Q.2, TPSài Gòn) chuyên tư vấn xây dựng và kinh doanh BĐS giờ chuyển sang bán bia - Ảnh: GIA HÂN
Hai cái chết và một đứa bé bơ vơ
Kết thúc một cuộc tranh chấp quyền nuôi con?
Một vụ giết người rồi quay súng tự sát giữa 2 người gốc Việt tại San Jose làm chấn động cộng đồng người dân đang sinh sống tại vùng vịnh. Đặc biệt, người Việt Nam lại càng quan tâm hơn bởi hung thủ và cả nạn nhân đều mang họ Nguyễn. Vụ án mạng xảy ra lúc khoảng gần 9:30 sáng thứ Bảy ngày 14 tháng 4 năm 2012.
Sau khi các hệ thống truyền thông Hoa Kỳ đăng tải bản tin thì hàng loạt các đài truyền hình và truyền thanh Việt ngữ cũng cho loan bản tin này. Vụ án mạng xảy ra tại bãi đậu xe của trung tâm mua sắm Gould tọa lạc tại góc đường McLaughlin Avenue và Capitol Expressway. Hung thủ đến gần và bắn thẳng vào đầu nạn nhân. Sau đó, quay súng vào đầu mình tự sát. Một em bé 17 tháng tuổi, được cho là con chung của 2 người này, lúc đó vẫn đang ngồi trong ghế carseat và buộc dây an toàn trong một chiếc xe BMW màu xám. Chiếc xe này đậu cách chỗ bắn nhau chỉ vài bước. Trung Tâm Bảo Vệ Trẻ Em của Quận Hạt Santa Clara đã dành quyền nuôi đứa bé kẹt lại trong xe trong khi cảnh sát vẫn đang điều tra về động cơ giết người và tự sát.
Được biết, nạn nhân và hung thủ đang trong tình trạng tranh chấp quyền nuôi con nhưng không có dấu hiệu gì về việc nạn nhân lo lắng cho an toàn của bản thân mình.
Nạn nhân Emanuel "Emma" Nguyễn, người phụ nữ di dân gốc Việt 39 tuổi gần đây gặp nhiều thất bại trong công việc làm ăn và tình cảm. Cô cũng đang lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính. Theo bài viết của nhà báo Pete Carey trên San Jose Mercury News số ra ngày thứ Năm 19/04/12 thì Emma từng làm chủ một hộp đêm (night club) nổi tiếng mang tên The Abyss tại khu Sunnyvale từ năm 2005 đến 2009. Cũng từ nguồn lợi tức của hộp đêm này, cô có một cuộc sống khá dư dả và mua một căn nhà trị giá 1.5 triệu đô ở trong khu vực cao cấp của Evergreen. Thông báo buộc đóng cửa hộp đêm The Abyss mở đầu cho sự tuột dốc của Emma. Đầu tiên là giấy phép kinh doanh rượu bị đình chỉ trong năm 2009, theo sau là đề xuất phải đóng cửa hộp đêm này tại thành phố Sunnyvale bởi lý do nhiều vụẩu đả và tranh chấp bạo lực đã xảy ra tại nơi đây. Sau khi mất nguồn lợi tức chính, Emma đã phải chia phòng trong căn nhà rộng 4,300 square feet để cho nhiều người thuê. Những nỗ lực về việc xin tái tài trợ cũng như giảm nợ đều bị thất bại. Kế tiếp là căn nhà bị nhà băng lên kế hoạch tịch thu vào tháng 11 nhưng Emma vẫn tiếp tục đăng craigslist cho mướn phòng mặc dù căn nhà đã thuộc quyền sở hữu của ngân hàng. Những người thuê nhà mới chuyển đến phát hiện ra họ phải đối mặt với việc bị trục xuất bất cứ lúc nào. Do đó họ tìm kiếm sự giúp đỡ từ Đại Học Luật của Silicon Valley. Người bạn trai của Emma dự định dùng chứng cứ này cho cuộc chiến dành quyền nuôi con ở phiên tòa tới. Trong thời hoàng kim của Emma, cô đã từng khoe với một tờ báo là cuộc đời của cô có thể quay thành phim. Cô như một ngôi sao Hollywood nhỏ, qua Mỹ từ năm 14 tuổi, dọn đến San Jose năm 2004, gầy dựng một hộp đêm với sức chứa 950 người chỉ sau 1 năm cư ngụ tại đây, sau đó trở thành triệu phú bất chấp mọi trở ngại về việc phụ nữ thiểu số điều hành kinh doanh. Cô cũng hãnh diện là gương mặt được nhiều người biết đến trong cộng đồng Á Châu.
Trở lai với chân dung hung thủ là Trung Nguyễn. Anh 32 tuổi và từng là một kỹ sư tại hãng IBM. Theo mô tả của bạn bè và những người làm việc chung với Trung trước đây thì tính tình của Trung chững chạc và không có biểu hiện gì khác lạ. Theo nguồn tin bạn bè và gia đình cho biết Emma đã đem em bé về Westminster, California sau khi căn nhà tại khu Evergreen bị tịch biên. Hôm cuối tuần qua là đến phiên của Trung chăm sóc em bé theo thỏa thuận của tòa là mỗi người chịu trách nhiệm một tuần. Dư chấn của thảm kịch này là những mối quan hệ gia đình, là những mâu thuẫn tranh giành quyền lợi, là nỗi lo sợ mơ hồ cho những sự việc tương tự sẽ tiếp diễn trong một xã hội phát triển tỉ lệ nghịch về phát triển giữa khoa học-kỹ thuật và đạo đức con người. – TH theo San Jose Mercury News
Đường lên Zion Canyon ở Utah
Zion Canyon ở về phía bắc của thắng cảnh Grand Canyon và nằm ở miền nam của tiểu bang Utah (trong khi bờ nam của Grand Canyon mà du khách thường đến viếng lại nằm bên tiểu bang Arizona). Zion Canyon là một vùng núi non hùng vĩ, cảnh trí kỳ thú ngoạn mục với những núi đá đỏ đứng thẳng như có bàn tay điêu khắc nào đó đục đẽo tạo hình. Thung lũng thần tiên này lại nằm trong một vùng thảo nguyên xanh tươi hoa nở ba mùa giữa tiếng chim ca và vang âm thác đổ.
Tôi ghé viếng thăm thung lũng Zion vào đầu tháng 9 trong dip lễ Lao Động Hoa Kỳ trên đường đi du ngoạn vùng rừng núi Yellowstone, nơi có những vòi nước phun từ lòng đất bắn vút lên trời cao. Chuyến du ngoạn này mất một tuần lễ ngồi xe buýt do một hãng du lịch người Đài Loan tổ chức bao gồm xe buýt chuyên chở, hướng dẫn tham quan và 6 đêm khách sạn. Vì đi một nhóm đông 20 người nên hãng du lịch cho một chuyến xe riêng là một xe buýt cỡ nhỏ và hướng dẫn viên du lịch kiêm tài xế anh chàng Gerald cũng là người Đài Loan.
Chúng tôi khởi hành vào sáng thứ Bảy trước bãi đậu xe chợ Hồng Kông trên đường Colima gần góc đường Fullerton thuộc thành phố City of Industry, một thành phố có rất đông người Đài Loan nằm về phía đông Los Angeles. Theo chương trình, ngày đầu tiên là lên chơi ở Las Vegas và đêm về thay vì ngủ ở Las Vegas lại tiếp tục theo xa lộ 15 lên hướng Bắc và ngủ đêm tại làng nhỏ có tên là Mesquite sát biên giới với tiểu bang Arizona và Utah, nơi này là vùng tam biên đèo heo vắng vẻ nên giá khách sạn rẻ hơn Las Vegas. Làm du lịch là phải tính toán sao cho giá được rẻ thì mới có lời. Chúng tôi “ra đi khi trời vừa sáng” mọi người trong lòng đều náo nức phấn khởi, vì quen biết hoặc họ hàng với nhau nên câu chuyện nổ như bắp rang nhất là những mẫu chuyện tiếu lâm do một cô làm nghề địa ốc kể cho vui trong cuộc hành trình.
Xe qua xa lộ 15 vượt đèo Cajon Pass ở Cucamonga bắt đầu lên miền cao nguyên sa mạc, cây cối thưa dần chỉ còn lại vùng cát ngút ngàn xa tít chân trời với những bụi gai Tumble Weed và những cây Joshua cằn cỗi đứng chơ vơ giữa trời. Cuối mùa hạ lại là miền sa mạc nên không khí bên ngoài rất nóng, máy lạnh trong xe mở tối đa, lúc đầu còn mát, dần dần chỉ phà ra hơi nóng. Các đấng nhi đồng con nít ngồi phía sau xe than nóng qúa và mặt đứa nào cũng đỏ gay. Gerald vừa lái xe vừa điều chỉnh máy lạnh vừa phân trần bằng tiếng Mỹ: “Máy lạnh mới sửa hôm qua, chạy rất lạnh bây giờ lại sanh tât trở chứng!” Các bà than nóng quá đòi Gerald quay xe trở về đổi xe khác, có bà chê xe của Gerald là xe... dỏm, phế thải đi là vừa. Gerald bị chạm tự ái dồn dập vừa lái xe vừa cầm điện thoại di động gọi về hãng báo cáo tình hình...vụ việc. Gerald nói điện thoại bằng tiếng Đài Loan nên trong xe cũng không ai hiểu gì khiến y phải thông dịch lại: “Ông chủ nói hôm nay là Lễ Lao Động, ngày cao điểm trong mùa du lịch, ở hãng nhà không còn xe mà mướn ở các hãng khác cũng không có nên không còn xe nào để đổi. Ông chủ kêu Gerald đem xe trở lại tiệm sửa máy lạnh ở City of Industry để cho họ coi lại.”

Dòng sông Trinh Nữ (Virgin River) uốn mình men theo dãy núi. HÌNH TRỊNH HẢO TÂM
Tất cả mọi người trong xe đều không muốn ngồi trên xe để trở về sửa máy lạnh nên Gerald đưa chúng tôi đến khu thương xá Shopping Mall ở Victorville, nơi đây bên trong mát mẻ, có tiệm buôn, nhà hàng, quán nước, nhà vệ sinh để chờ, khi nào xe sửa xong sẽ quay lại đón đi tiếp. Từ Victorville về City of Industry cũng gần 70 miles vừa đi vừa quay lại cũng gần 3 tiếng đồng hồ chưa kể thời gian sửa máy lạnh. Nhưng đã trót đi cũng phải chấp nhận, có người than thở trách móc hãng du lịch và cả người đứng ra tổ chức sao chọn hãng rẻ, “người ta thường nói của rẻ là của hôi mà!” Có người thì bình thản chấp nhận vì nghĩ rằng đã là cuộc đời thì có lúc êm xuôi bằng phẳng, cũng có những lúc xảy ra “sự cố”, trở ngại không như mình mong muốn. Chúng tôi đi dạo trong Mall xem hàng hóa bày bán, có người cũng mua được vài món giá rẻ và họ mừng vui hớn hở khoe với những người đồng hành. Đi mỏi chân chúng tôi ngồi trong Mac Donald ăn sáng, nhâm nhi ly cà phê, hết thì châm thêm không giới hạn và bàn tán chuyện đời. Nếu xe không hư máy lạnh có lúc nào chúng tôi có dịp đấu láo vui vẻ thoải mái như hôm nay? Đời sống xứ Mỹ này khiến mọi người bị cuốn hút vào dòng đời trôi nổi, lúc nào cũng tất tả ngược xuôi. Vui cười tán dóc với nhau nên thời gian trôi qua rất nhanh và cuối cùng Gerald cũng lơn tơn đi vào Mall tìm chúng tôi và cho hay tin vui... giữa giờ tuyệt vọng là máy lạnh đã sửa xong và trong xe rất là mát lạnh. Bây giờ đã 3 giờ chiều chúng tôi hăng hái phấn khởi lên xe tiếp tục cuộc hành trình lên Las Vegas thành phố của tội lỗi nhưng ...rất vui mặc dù lắm lúc “vui một ngày khóc cả đời!”. Cả đoàn lên xe và Gerald cho xe chạy, “You see the air conditioner is working good!” Gerald hãnh diện tuyên bố. Mọi người vui vẻ bàn tính lên Las Vegas chiều nay sẽ làm gì, câu chuyện râm rang, rộn rã dường như bất tận. Khí hậu bên ngoài buổi trưa sa mạc nên rất nóng dường như là 110 độ F nhưng trong xe máy lạnh vẫn chạy tốt và xe sau khi qua khỏi thị trấn giữa đàng Baker xe chúng tôi bắt đầu leo dốc trên vùng núi sa mạc Mojave. Xe ì ạch leo nhưng có vẻ leo không nỗi, tốc độ giảm dần và cuối cùng bò chậm chạp ở lane sát lề, phía sau là hàng chục xe nối đuôi theo, nhiều xe bất mãn đổi lane vượt qua và Gerald vừa bò vừa chớp đèn emergency, mặt mày căng thẳng tái nhạt! Trong đoàn tiếng bấc tiếng chì xôn xao xua động, nhiều bà than phiền “hôm nay đi không coi ngày”, “của rẻ là của ôi, biết bao nhiêu hãng du lịch sao không chọn mà lại chọn hãng du lịch...mắc dịch này!” Người “ăn cơm nhà đi vác ngà voi” là “cụ” Nguyễn Ngọc Liên vốn có một “tâm tình hiến dâng” có công lập hội Thanh Nhàn tổ chức những chuyến đi đem niềm vui cho bà con, bạn bè nhưng hôm nay cụ lại buồn thiu, muốn thanh nhàn mà không được nhàn! Tôi nhìn cụ cười cảm thông, chia sẻ. Cụ cũng cười lại nhưng chắc là...“miệng cười mà lệ tuôn rơi!”
Xe vừa đổ dốc là gặp khu Rest Area (chỗ nghỉ chân) nên Gerald tấp vào và theo lời bàn bạc là nên đem xe đến cho thợ máy xem sao vì trên con dốc phía trước, rất xa nhưng sa mạc trống trải nên nhìn thấy, có một trạm xăng mà trạm xăng thường có thợ máy. Nhiều người lo ngại nếu xe không sửa sẽ không qua nỗi ngọn đèo phía trước là Mountain Pass cao 4,726 feet. Đổ dốc đèo này sẽ tới biên giới tiểu bang Nevada nơi đây dù giữa sa mạc nhưng có 3, 4 sòng bài casino khá lớn. Tuy trên đèo nhìn thấy những cao ốc casino này nhưng khoảng cách rất xa phải hơn 10 miles. Thà là nghỉ chân ở Rest Area tuy nóng nhưng còn có mái che nắng, nhà vệ sinh và nước uống còn hơn là tiếp tục đi sợ xe cháy máy trên đèo giữa trời nắng nóng còn mệt hơn nữa. Chúng tôi xuống xe vào nhà mát chờ và Gerald một mình lái xe đến trạm xăng tìm thợ máy. Độ nửa giờ sau Gerald trở lại cho biết là thợ máy nói xe không hư gì cả chỉ vì trời quá nóng, hơi nóng từ nhựa đường bốc lên khiến nhớt hộp số quá nóng không hoạt động bình thường được, rất nhiều xe tải bị chứng bịnh này. Chúng tôi tin lời thợ máy và lên xe trở lại, tiếp tục bò lên đèo. Tuy bò một cách chậm chạp nhưng rốt cục xe vẫn tới được đỉnh đèo và từ đây xe đổ dốc nên không còn vấn đề nữa.
Bảy giờ chiều chúng tôi cũng tới được Las Vegas và Gerald đưa chúng tôi đến casino Imperial để ăn tối. Casino này tuy nằm trên đại lộ huyết mạch là Las Vegas Boulevard thường được gọi tắt là Strip nhưng nó rất xưa cũ và hãng du lịch có hợp đồng mướn phòng tại đây. Nhưng đêm nay đoàn chúng tôi không ngủ tại đây mà ra sa mạc ngủ cho ...rẻ hơn. Một số người trong đoàn đòi Gerald gọi về hãng du lịch để đổi xe khác nhưng hãng nói không còn xe nào thay thế và cho rằng xe vẫn chạy tốt, nếu nằm đường hãng sẽ chịu trách nhiệm. Một ông trong đoàn bất bình nói hãng này ngoan cố quá, xe như vậy mà nói chạy tốt, không đổi xe khác rủi ngày mai nằm giữa sa mạc đói khát thì sao và ông nói với tài xế kiêm hướng dẫn viên Gerald: “I am a lawyer, I will sue your company!” Gerald cả ngày hôm nay quá căng thẳng nên trả lời: “You are a liar!” khiến ông mất bình tỉnh đòi cho Gerald bài học. Ông gọi vào phi trường mua vé máy bay để hai ông bà trở về ngay bây giờ không thèm đi nữa. Tôi hỏi vé máy bay trở về Los Angeles là bao nhiêu? Ông nói $400 mỗi vé và hãng phải trả lại cho ông. Một nhóm phụ nữ 3 người không đi nữa nhưng họ thích không khí Las Vegas nên ở lại chơi khi nào chán sẽ về bằng xe buýt, họ vui vẻ không căng thẳng như ông luật sư kia. Chúng tôi đi ăn Buffet và kéo máy chút đỉnh đến 9 giờ thì gặp nhau tại phòng lễ tân (lobby) của Imperial để đi Mesquite cũng trên xa lộ 15 và cách Las Vegas lối 90 miles về hướng đông bắc. Trước đây đường bộ tôi chưa bao giờ vượt quá Las Vegas, đêm nay lên hướng bắc không biết phong cảnh như thế nào nhưng vì đêm tối lại không trăng nên chẳng thấy gì, chắc cũng là sa mạc mênh mông với những loài xương rồng không cần nước. Ngày hôm nay xe hư, chờ đợi thật là mệt nhọc, vất vả nên lên xe mát mẻ mọi người đều ngủ và lạ một điều là xe chạy ngon lành có lẽ vì trời đêm mát mẻ và 5 người bỏ chuyến đi nên xe nhẹ hơn và chúng tôi có những băng ghế nằm rất thoải mái. Mười một giờ đêm xe đến Mesquite, nơi đây dường như không có nhà dân chỉ có vài casino vừa motel 2 tầng lầu theo kiểu Motel 6 mà phía ngoài sân không có bãi cỏ xanh mà chỉ landscape bằng những bụi xương rồng và đá tảng. Sau khi tắm rửa cho sạch bụi sa mạc và vì đã chợp mắt trên xe nên không thấy mệt nữa chúng tôi lại đi kéo máy cho đến 1 giờ sáng mới trở về phòng đánh một giấc ngon lành thẳng cẳng. Sáng hôm sau tôi thức sớm lúc 6 giờ vì quen với giờ giấc đi làm, tắm nước nóng cho tỉnh người và cùng bà xã xuống Restaurant của Motel ăn sáng trứng chiên, xúc xích và cà phê. Phục vụ nhà hàng không có các cô phụ nữ trẻ vì các cô trẻ chắc không ai chịu ở đây mà chỉ các bà lớn tuổi mặc váy đầm rất thân thiện, tay cầm bình cà phê châm thêm liên tục và hỏi han đủ thứ. Chúng tôi lấy hành lý và ra xe tiếp tục lên đường, xe qua biên giới Nevada và vào tiểu bang Arizona, qua cầu con sông tên là Trinh Nữ (Virgin River) bắt nguồn từ vùng núi Zion National Park và chảy về hồ Lake Mead gần Las Vegas. Từ đây phải vặn đồng hồ thêm một giờ vì Arizona cũng như Utah xài giờ Mountain Time. Con đường 15 dần lên miền cao và phong cảnh khá đẹp không còn sa mạc mà là đồi núi và thông xanh. Hơn nửa giờ sau chúng tôi lại vượt qua biên giới Arizona và tiến vào tiểu bang Utah ở thành phố địa đầu St George. Qua khỏi St. George một đoạn ngắn thì rẽ vào con đường nhỏ số 9 gặp lại dòng sông Trinh Nữ chạy song song bên cạnh rồi ngang qua thị trấn Hurricane (Bảo tố) để vào thăm viếng thắng cảnh Zion National Park.
ZION NATIONAL PARK
Con đường số 9 len lỏi đi vào vùng núi Zion Canyon là con đường ngoạn cảnh đầy hoa thơm cỏ lạ, nơi đây thiên nhiên được bảo vệ và người ta đếm được có đến 800 loại thảo mộc, 75 loại động vật có vú, 271 loài chim, 32 bò sát và 8 loại cá. Công viên quốc gia Zion là một vùng núi non hùng vĩ, cảnh trí ngoạn mục với những núi đá đỏ dốc đứng thẳng như cảnh hòn non bộ lại nằm trong một vùng thảo hoa xanh tươi xinh đẹp. Zion National Park được thành lập từ năm 1909 đến 1919 được nới rộng và lấy tên là công viên quốc gia Zion. Công viên rộng 229 dặm vuông nằm trong vùng cao nguyên Colorado và nằm gần bờ phiá bắc của thắng cảnh Grand Canyon, trong khi bờ phiá nam của thung lũng Grand Canyon nằm bên Arizona. Zion theo tiếng cổ Hebrew có nghĩa là một vùng bình yên ẩn dật. Ngược dòng lịch sử người da đỏ thuộc bộ tộc Puebloans đã ở đây từ 2 ngàn năm trước, đến thập niên 1860 nhóm tiền phương giáo phái Mormon khám phá ra vùng thung lũng thần tiên này và họ gọi nơi đây là Kolob có nghĩa là cõi địa đàng rất gần Thiên Chúa.
Chúng tôi dừng lại và xuống xe nơi Zion Canyon Visitors Center, bên trong có trưng bày nhiều hình ảnh, tài liệu, mẫu đá cũng như thu lệ phí cắm trại qua đêm, có nhân viên (Rangers) trả lời hướng dẫn tất cả những gì du khách muốn biết trong việc thăm viếng, tìm hiểu về thung lũng Zion. Nơi đây có một Tours du khảo 90 phút bằng xe Shuttle tôi nghĩ hữu ích cho những người không có nhiều thời giờ dừng chân lại nơi đây. Chúng tôi cũng vậy chỉ là khách cỡi ngựa xem hoa, chợt đến rồi chợt đi, chứ muốn thưởng thức hết cảnh đẹp thần tiên này phải cắm lều ngủ qua đêm, phải đi trên những con đường mòn (trails), trèo núi, lội suối băng rừng vì nơi đây có rất nhiều đỉnh cao, vách đá, khe suối, hồ trong với những điạ danh như Angels Landing, Emerald Pools, Hidden Canyon, Fatman’s Misery...
TRỊNH HẢO TÂM
Cùng tác giả đã phát hành 8 quyển ký sự du lịch: “Trên Những Nẻo Đường Việt Nam”, “Miền Tây Hoa Kỳ”, “Trung Quốc”, “Mùa Thu Đông Âu”, “Tây Âu Cổ Kính”, “Miền Đông Nước Mỹ và Canada”, “Hành Hương Thánh Địa Do Thái” và “Nhật Bản, Hồng Kông Macau, Thái Lan”. Đồng giá 15 USD mỗi quyển. Ở xa gởi ngân phiếu về tác giả, sách có chữ ký sẽ được gởi đến tận nhà (bao cước phí trong nước Mỹ):
TRINH HAO TAM
3683 Hawks Drive Brea CA 92823
Điện thoại 714-528-1413
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Nhớ Nguyễn Đức Quang với “Chuyện quê ta”
Chương trình đúng ra chấm dứt với bản đồng ca nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, nhưng theo lời yêu cầu của một số người tham dự, Đoàn Du ca Bắc California đã quay trở lại sân khấu nhỏ của Hội An Bistro để cùng hát “Đường Việt Nam”, một ca khúc khác cũng dâng trào hào khí đấu tranh của thanh niên Việt trong thế kỉ trước.
Nhưng càng mưa giông càng vươn tới
Bước chân hùng còn đi rất hăng
Đi dựng lấy quê nhà
Giống da vàng nầy là vua đấu tranh…
Bài hát kết thúc sinh hoạt kỉ niệm một năm ngày người anh cả của phong trào du ca Việt Nam qua đời. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang giã từ cõi trần vào cuối tháng Ba năm ngoái, để lại cho tuổi trẻ, cho quê hương Việt Nam nhiều bài ca sinh hoạt toát lên tình tự quê hương và tấm lòng dấn thân của thanh niên đối với đất nước trong những năm của thập niên 1960 và 70 ở thế kỉ trước.
Nhân kỉ niệm một năm ngày mất Nguyễn Đức Quang, tuần trước đó dưới miền nam California đã có sinh hoạt tưởng nhớ anh, hôm nay đến lượt San Jose. Trong một buổi tối trời mưa, một trăm con tim với những yêu thương nồng ấm dành cho Nguyễn Đức Quang đã đến với nhau, hát cho nhau nghe và cùng hát bên nhau.Với tấm lòng đó, có những du ca đến từ phương xa, tận mãi Hoà Lan, là anh Nguyễn Quyết Thắng và hiền thê là chị Minh Chiến.
Anh Thắng cũng là một trong những huynh trưởng du ca Việt Nam với nhiều bài hát đã đi vào lòng người, được biết đến nhiều nhất có lẽ là bài “Nằm vắt tay lên trán” mà chị Xuân Liên, chủ quán, trong lời giới thiệu đã nói dù ngày xưa còn bé, chưa tham gia phong trào nhưng chị cũng đã biết đến lời ca đó.
Hôm nay anh Nguyễn Quyết Thắng và chị Minh Chiến hát những phiên khúc và mọi người đồng ca điệp khúc:
Nằm vắt tay lên trán
ta nghĩ đến chuyện cuộc đời
Ngồi bấm đốt ngón tay
ta nghĩ đến chuyện ngày mai.
Sau đó anh chị cũng hát bản tình ca quen thuộc của Nguyễn Đức Quang “Người yêu tôi bệnh”:
Nắng nóng cháy da đã về rồi
Trên thân người đẹp tôi
Bão tố buốt xương cũng về rồi
Cho thêm tàn phai…
Giờ còn có nhau
Giúp nhau cho thật nhiều
Ngày nào mất nhau
Sớt chia chẳng được đâu.
Lời ca ôi sao mang tính nhân bản, nhắn nhủ con người nâng đỡ, đùm bọc khi còn bên nhau. Trong những lần Nguyễn Đức Quang hát lời ca này, anh nói người yêu của anh chính là quê hương Việt Nam trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng đầy những gian truân của thập niên 1960.

Nguyễn Thiện Cơ, bên phải, và Trần Anh Kiệt với “Nỗi buồn nhược tiểu”. ẢNH BÙI VĂN PHÚ
Sinh hoạt tưởng nhớ Nguyễn Đức Quang có sự tham dự của nhiều người của cộng đồng, từ giới quân nhân như cựu sĩ quan Bùi Đức Lạc, Nguyễn Mộng Hùng, Thái Văn Hoà; luật sư Nguyễn Thành là người thầy của Nguyễn Đức Quang ở Đại học Đà Lạt đã đưa anh vào sinh hoạt học đường. Có nhà văn Thanh Thương Hoàng, nhà thơ Hải Phương, giáo sư Nguyễn Châu, bác sĩ Huỳnh Quan Minh. Giới nghệ sĩ có hoạ sĩ Trương Thị Thịnh, Quế Hương, các nhạc sĩ Trần Quảng Nam, Trần Chí Phúc. Những nhân vật cộng đồng như ủy viên giáo dục Vân Lê, ông Đỗ Hùng, các ứng viên hội đồng thành phố San Jose là Tâm Trương và Jimmy Nguyễn.
Cũng đến từ phương trời rất xa là du ca Nguyễn Thiện Cơ, sau nhiều năm ở Hoa Kỳ đã trở về Việt Nam sinh sống. Anh trở lại Mỹ để tham gia những sinh hoạt tưởng niệm một người anh. Nguyễn Thiện Cơ và Nguyễn Đức Quang là bạn từ thuở thanh niên, cùng nhau ôm đàn hát ca, sang Mỹ ôm máy tính làm báo, tiếp tục sinh hoạt du ca. Sau những năm làm báo Người Việt của anh Đỗ Ngọc Yến, hai anh ra riêng làm tờ Viễn Đông. Nhưng làm báo không phải là đam mê nên các anh bỏ nghề.
Anh Nguyễn Thiện Cơ, cùng với chị Bích Hạnh là người gần gũi với anh Quang trong những ngày cuối đời đến tham dự có đem theo vài chục tập nhạc “Những ca khúc cuối cùng” và DVD/Karaoke “Ca khúc Nguyễn Đức Quang” để phổ biến và đã được sự ủng hộ nhiệt tình của khách.
Tối nay anh Cơ ôm đàn hát “Nỗi buồn nhược tiểu”, cùng với du ca Trần Anh Kiệt, trầm buồn và hùng tráng như quê hương, như con người Việt Nam:
Tôi trót sinh ra làm dân nhược tiểu
Vú mẹ gầy cơm chẳng nuôi thân
Vắt tình này thôi máu mẹ nuôi con…
Hãy đứng dậy hỡi anh này
Hãy đứng dậy hỡi em này
Bao người con Việt Nam
Cùng tay cầm tay dựng xây đất nước
Cho đất Việt hết điêu tàn
Cho nước Việt hết nguy nàn
Cùng chung lưng nhìn quê hương
Tiến bước lên nhịp nhàng.
Sinh hoạt tưởng nhớ Nguyễn Đức Quang tối thứ Năm 12/4 với chủ đề “Chuyện quê ta” do Đoàn Du ca Bắc California tổ chức. Trong vài năm qua đoàn có những sinh hoạt nhằm khơi động tinh thần du ca trong giới trẻ. Hướng dẫn đoàn có anh Nguyễn Tâm, anh Trương Xuân Mẫn nguyên đoàn phó Du ca Đà Nẵng. Gần đây có sự tham gia của anh Trần Anh Kiệt, nguyên đoàn trưởng Du ca Phù Sa, An Giang.

Nguyễn Quyết Thắng và Minh Chiến đến từ Hoà Lan. ẢNH BÙI VĂN PHÚ
Tiếng hát du ca bắc California cất lên xen kẽ nhau, với đồng ca khai mạc “Đoàn ta ra đi” là hiệu ca của phong trào, với “Người anh du ca”, sáng tác của Tâm Nguyên ghi lại cảm nhận khi hay tin Nguyễn Đức Quang qua đời.
Đồng Thảo, Trần Anh Kiệt và Nguyên Nhu cùng hát “Lìa nhau”. Nguyên Nhu với “Một giấc chiêm bao”, Đồng Thảo hát “Cần nhau”, Mây Lan với “Im lặng là đồng lõa”, “Có những khi”, Anh Thư qua “Bên kia sông”.
Anh Nguyễn Thiện Cơ sau “Nỗi buồn nhược tiểu” còn hát “Chắc là em đã” và “Hàng ngàn cây số”:
Vì tôi đã xa quê hương cả ngàn cây số
Và tôi vẫn rất chán ghét nghe tiếng còi tàu…
Bài hát phảng phất âm điệu bài dân ca Hoa Kỳ “500 Miles”.
Anh Nguyễn Quyết Thắng và hiền thê, sau những bài ca rất phổ thông của Nguyễn Đức Quang, đã đóng góp cho chương trình với những sáng tác của chính anh như “Về miền gian nan” phỏng theo một điệu dân ca Israel và “Những nụ bông cau” từ ý thơ Đoàn Minh Khánh cảm tác sau một lần lấy khẩu cung một bà mẹ trong trại tạm cư Ban Mê.
Những bản đồng ca được đoàn viên du ca cất lên: “Về với mẹ cha”, “Ngày ấy đất nước hồi sinh”, “Đường Việt Nam” luôn tạo hào khí trong lòng người vì những tâm tình đó còn đọng lại trong trí nhớ nhiều người Việt ở hải ngoại được tự do ca hát. Có một khách ngồi đối diện, mới từ Việt Nam sang thăm Hoa Kỳ, tuổi chừng trên dưới 40, khi chúng tôi hát những bài đồng ca quen thuộc, tôi quan sát vị khách đó thấy như không có chút gì thân quen với ca từ của Nguyễn Đức Quang.
Nhìn lên sân khấu nhỏ, đoàn du ca đứng trước cảnh Chùa Cầu ở Hội An, tôi vừa cất tiếng hát vừa thả hồn bay xa về nơi quê nhà, tưởng tượng rồi tự hỏi bao giờ chúng tôi và những người trẻ Việt Nam được quây quần ở đó, hát vang:
Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng giờ qua, cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng
© 2012 Buivanphu.wordpress.com



