![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
Khung cảnh Kinh tế của Tranh cử Chính trị
Vòng sơ bộ Iowa là biến cố chính thức báo hiệu cuộc tranh cử tổng thống Mỹ.
Chỉ có hơn ba triệu dân giữa khu vực Trung-Tây của Hoa Kỳ, tiểu bang Iowa có thể là tiêu biểu cho nước Mỹ thâm sâu, với đa số da trắng và sùng đạo (52% Tin Lành và 23% Công giáo), khá bảo thủ về xã hội.
Vì là tiểu bang nhỏ, Iowa được tổ chức bỏ phiếu sớm nhất ở vòng sơ bộ, để "lọc" các ứng cử viên trước khi các tiểu bang lớn có tiếng nói quyết định hơn. Đầu Tháng Giêng của một năm có tranh cử, vòng bỏ phiếu của Iowa mới đặc biệt gây chú ý cho đảng đối lập: xin tạm nhớ rằng đối lập nên mới phải tổ chức vòng sơ bộ (primary) để chọn người đại diện đảng ra tranh cử với đương kim Tổng thống - hay Phó Tổng thống đương nhiệm – ngày mùng sáu Tháng 11 tới đây.
Nhưng dù là đáng chú ý, kết quả Iowa không nhất thiết phản ánh sự chọn lựa của cử tri toàn quốc vào Tháng 11. Quá nhiều trường hợp "trật chìa" đã xảy ra từ mấy chục năm qua nên ngay sau Iowa, dư luận lập tức chú ý đến vòng sơ bộ tại các tiểu bang kế tiếp.
Một cách rộng lớn hơn, thành phần trung kiên của cả hai đảng đều tích cực vận động từ vòng sơ bộ nên các ứng viên phải lọt qua cửa ải quá khích - cực tả bên đảng Dân Chủ và cực hữu bên Cộng Hoà. Sau đó họ mới chuyển dần lập trường về phía giữa để thuyết phục cử tri ôn hoà hay độc lập thì mới hy vọng thắng cử.
Kết quả bỏ phỉếu của Iowa hôm Thứ Ba mùng ba đáng chú ý ở sự kiện ứng viên Cộng Hoà thuộc loại "ôn hoà" - tức là có vấn đề với khuynh hướng bảo thủ rất tích cực trong vòng sơ bộ - lại dẫn đầu, dù chỉ tám phiếu. Đó là cựu Thống đốc Mitt Romney. Yếu tố này báo hiệu nhiều trận đánh cho đến trước Đại hội đảng vào ngày 27 Tháng Tám mới ngã ngũ....
Nhưng bất cứ ai đứng thụ ủy liên danh Cộng Hoà để tranh cử với Tổng thống Barack Obama đều phải giải quyết - hoặc có chủ trương giải quyết - hồ sơ ưu tiên nhất của cử tri. Là kinh tế.
Bài viết này sẽ tìm hiểu về hồ sơ đó, từ giác độ khách quan và nghiệt ngã của kinh tế.
***
Một cách đại lược – và tính cho tròn để dễ nhớ - kinh tế Mỹ sản xuất ra một năm chừng 15.000 tỷ Mỹ kim, ta gọi đó là Tổng sản lượng Nội địa GDP. Ngân sách quốc gia xài hết 25% của số đó mà thu vào có 15% nên bị bội chi 10% và phải đi vay. Số công trái, nợ của khu vực chính phủ, đã tăng vọt và nay mấp mé 80 đến 98% GDP. Khác biệt là do cách tính các khoản nợ này, trong đó có cả chuyện Chính quyền nợ cơ quan của Nhà nước.
Khi đi vay thì phải trả lãi, tiền lời đó sẽ càng gây thêm bội chi ngân sách. Cũng tính cho gọn thì tiền lãi đó lên tới 1,5% GDP, bằng 10% của nguồn thu ngân sách.
Đó là chuyện công chi thu, hay tài chánh công.
Kinh tế Mỹ chưa khởi sắc sau nạn Tổng suy trầm 2008-2009 – năm 2011 chỉ đạt mức tăng trưởng từ 1,5 đến 2% là nhiều – nên thất nghiệp mới là vấn đề cho người dân và các ứng cử viên. Làm sao kích thích sản xuất - để đạt mức tăng trưởng cao hơn hầu thu thêm thuế và giảm bớt thất nghiệp - mà không gây bội chi ngân sách rồi lại đi vay?
Nếu mức vay mượn mà vượt 100% GDP thì Hoa Kỳ sẽ có số phận của Hy Lạp.
Với đà tiêu xài của ba năm qua, nước Mỹ còn ba năm nữa là sẽ trôi vào vực sâu đó và khi ấy, chỉ riêng khoản tiền lãi của công trái sẽ vượt 10% nguồn thu ngân sách. Cho nên cùng với yêu cầu kích thích kinh tế - bằng công chi - Hoa Kỳ phải giảm chi hoặc tăng thuế để kềm hãm bội chi ngân sách dưới cái ngưỡng sinh tử là 100% GDP.
Người thắng cử Tháng 11 này sẽ phải giải quyết bài toán khắt khe đó, mà lại khó nói thật. Nói thật - giảm chi hoặc tăng thuế - thì sẽ gây thất vọng và thất cử.
Kết luận đầu tiên: cử tri Hoa Kỳ có phần trách nhiệm khi sợ thuốc đắng và mặc nhiên để các chính khách cho uống nước đường.
***
Bối cảnh đó khiến chúng ta nhớ tới hài kịch của tháng trước, khi đảng Cộng Hoà không thống nhất được quan điểm giữa hai viện trên dưới về việc giảm thuế sổ lương gọi là Payroll Tax.
Sắc thuế đó nhắm vào việc tài trợ quỹ An sinh Xã hội (Social Security) nay đã ngập nợ, do công nhân viên và các doanh nghiệp cùng đóng góp theo tỷ lệ 50/50. Vì kinh tế èo uột, thuế suất 12,4% quy định từ năm 1990 đã được giảm 2% từ cuối năm 2010 để kích thích tiêu thụ nhờ mỗi hộ gia đình có thể được giảm 1,000 Mỹ kim trong một năm. Với 160 triệu người thọ thuế, khoản tiền đó sẽ kích cầu kinh tế.
Nhưng đồng tiền vốn có hai mặt, phí tổn của biện pháp kích thích này sẽ là ngân sách bị thất thâu 120 tỷ đô la, bội chi thêm khoảng 0,8% của GDP. Chưa đủ nhức đầu, chúng ta bước ra khỏi thế giới khắt khe của kế toán và kinh tế mà đi vào trường tranh luận chính trị: cách tính về hậu quả của việc giảm thuế, hoặc tăng thuế.
Cả hai đảng đều có thể viện dẫn thống kê hay dự báo chuyên môn của các kinh tế gia để bênh vực lập trường của mình. Đó là tác dụng "số nhân" hay "nhân số", "multiplier" của kinh tế học. Một đồng thu vào hay chia ra có thể gây kết quả thế nào với kinh tế và ngân sách?
Nó có thể là từ một đến ba: một là vô hiệu hay vô hại vì thu vào nhờ việc kích thích cũng bằng với số tiền chi ra để kích thích; ba là có kết quả gấp ba, như cách ước tính của các kinh tế gia trong ban tham mưu kinh tế của Chính quyền Obama, kể cả Giáo sư Christina Romer, năm kia là Cổ vấn trưởng về Kinh tế cho Tổng thống. Cho trung dung thì người ta có thể chọn nhân số là hai.
Nhưng, trường phái nào đi nữa cũng đồng ý về thời khoảng công hiệu, thời gian từ khi ban hành tới ngày có kết quả. Lý do là quần chúng và thị trường cần thời gian để thay đổi cách sinh hoạt trong tiêu thụ hay đầu tư. Biện pháp giảm chi phải mất cả năm mới tác động vào kinh tế, việc giảm thuế thì mất hơn một năm.
Và không ai thay đổi cách sinh hoạt nếu chỉ được giảm thuế trong hai tháng. Chúng ta trở một trận đấu khôi hài của năm ngoái vì nó báo hiệu nhiễu âm cho năm nay.
Đảng Cộng Hoà chủ trương duy trì việc giảm thuế sổ lương trong dài hạn để kích thích kinh tế, nhưng cũng đòi giảm chi một ngân khoản tương đương để không gây thêm bội chi ngân sách. Đảng Dân Chủ thì sợ phán xét của quần chúng về tật gây bội chi mà vẫn cần sự ủng hộ của một số quần chúng qua các khoản chi xã hội. Vì vậy, họ chọn biện pháp "đá ra biên" để câu giờ, bằng cách triển hạn giảm thuế sổ lương thêm hai tháng....
Thượng viện trong tay đảng Dân Chủ biểu quyết chuyện đó, với sự đồng ý bất ngờ của đối lập Cộng Hoà. Các chính trị gia đã bịp quần chúng qua biện pháp gọi là giảm thuế thêm hai tháng vì tác dụng đó hoàn toàn không có nếu chỉ kéo dài hai tháng. Quý vị sẽ không quyết định việc đổi xe hay sửa nhà hoặc mở mang cơ sở kinh doanh nếu có thêm vài trăm bạc và sau đó sẽ lãi trả thuế cao hơn.
Vì thế, đảng Cộng Hoà nắm Hạ viện trong tay mới chống, tức là chống cả quyết định ủng hộ của các Nghị sĩ Cộng Hoà, và bị đả kích là không ưu lo cho dân nghèo! Kết cuộc thì chỉ chống được vài ngày và họ đành bọc xuôi cho Tổng thống kịp ban hành đạo luật trước khi đi nghỉ cuối năm.
Sự thiếu phối hợp giữa hai viện của đảng - và nhất là thiếu giải thích cho quần chúng - về một trận đánh lặt vặt trong ngân sách (lạc quan là 120 tỷ so với số bội chi 1.500 tỷ hoặc 167 đô la cho một hộ gia đình) cho thấy tương lai khá mờ mịt của phe Cộng Hoà trong năm nay.
Và của nước Mỹ trong năm 2013.
***
Con bệnh kinh tế Hoa Kỳ cần một lúc hai liều thuốc đắng để tránh viễn ảnh u ám của Hy Lạp (hay Ý, v.v....) là khi công trái lên tới 100% tổng sản lượng. Một là phải giảm chi để thu hẹp mức khiếm hụt ngân sách quá lớn hiện nay. Hai là phải tăng thuế để nâng cao nguồn thu cho ngân sách. Cả hai liều thuốc này phải mất cả năm mới công hiệu....
Nhưng, nếu giảm chi tức là chấp nhận chánh sách kinh tế khắc khổ thì tác dụng "số nhân" có thể làm Tổng sản lượng giảm 1,5%, tức là kinh tế không tăng trưởng! Nếu cho rằng năm qua, mức tăng trưởng là 1,5% thì năm tới, nó sẽ là 0%. Việc tăng thuế cũng vậy, nhất là khi người có tiền đầu tư để sản xuất và tạo thêm việc làm lại bị quần chúng coi là bọn tỷ phú tài phiệt bất nhân - thành phần 1% có tội và đang bị biểu tình phản đối với sự hoan hỷ của đảng Dân Chủ.
Sự thật là trước khi trời sáng thì bóng tối sẽ đậm đặc hơn chén thuốc Bắc!
Hậu quả của việc chối từ thuốc đắng – trong một năm tranh cử - là cùng nhau ta đá ra biên. Khi trì hoãn quyết định đau lòng mà cần thiết này, người ta nên chờ đợi là khoản tiền lời đi vay sẽ không chỉ là 15,% như hiện nay, hoặc lên tới 2% trong năm tới. Viễn ảnh sẽ là 4%, tức là thu thuế được 15% thì mất hơn một phần tư nguồn thu đó cho việc trả nợ.
Nhưng viễn ảnh đó không đáng cho cử tri Iowa quan tâm bằng lập trường của các ứng cử viên Cộng Hoà về chuyện phá thai hay hôn nhân đồng tính. Hoặc đối sách với nạn di dân nhập lậu, có tài trợ học phí cho con em của họ hay không? Nếu lại thấy Dân biểu Ron Paul về hạng ba, sau cựu Nghị sĩ Cộng Hoà Rich Santorum – mất ghế từ năm 2006 với tỷ lệ thất cử 18 điểm – chúng ta hiểu vì sao chuyện Iowa chí có hiệu ứng được một tuần!
Trong năm nay, ta nên theo dõi chuyện cơm áo gạo tiền này để xem khả năng lừa mị của các chính khách. Còn lại, xin hãy cầu ông Thần bịt mặt, là Thị trường. Sự phán xét đó mới đáng lạnh mình.[NXN]
Năm 2011 vừa kết thúc là một năm nổi loạn, và mở ra một năm hoang mang.... Loài người là sinh vật lạ vì thích ngó vào cái đồng hồ hơn là tờ lịch. Lấy ngắn hại dài là một cách nói khác. Nhìn trong một viễn ảnh dài hạn trường kỳ, chưa khi nào nhân loại lại thịnh vượng như trong năm 2011 đang kết thúc, khi dân số địa cầu đạt bảy tỷ: bảy tỷ miệng ăn cùng những cánh tay và bộ não cho sản xuất. Theo thống kê và tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc, từ 30 năm nay, số người ở trong tình trạng cùng khốn đã giảm từ 50% xuống còn có chừng 30% dân số thế giới. Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cũng giảm và tuổi thọ trung bình trên toàn cầu đã tăng. Đó là tờ lịch. Trong giai đoạn khá dài đó, xin tạm kể là từ 1981 trở đi, các quốc gia trên địa cầu đều cố du nhập nguyên tắc tự do trong kinh tế, gọi đó là "cải cách", "đổi mới" hay "chuyển hướng", và đạt kết quả là sự "chừng mực": tăng trưởng đều đặn, với lạm phát thấp, giữa các chu kỳ suy trầm trung bình thì tương đối ngắn, tối đa là chừng hai năm. Song song, nhất là sau sự tan rã của Liên bang Xô viết năm 1991, cách nay đúng 20 năm, đa số các nước đều thấy sự can thiệp quá đáng của nhà nước mới gây vấn đề. Và giải pháp thỏa đáng hơn cả chính là nguyên tắc dân chủ, khi mọi người dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật để có khả năng chọn lựa tự do hơn. Chu kỳ của sự chừng mực trong các giải pháp và chọn lựa đã kết thúc trong năm 2011 vừa qua. Và mở ra một thời kỳ hỗn loạn khi người ta thu hẹp tầm nhìn vào hiện tại. *** Trong thời loạn, người ta hết tin tưởng vào các giải pháp hay các định chế có thẩm quyền về chánh sách. Một nguyên nhân chính – không phải duy nhất – là sự thái quá trong chánh sách ứng phó với nạn suy trầm kinh tế, khởi sự năm 2008 và kéo dài đến giữa năm 2009, đấy là một chu kỳ cứ tưởng bình thường, năm bảy năm lại xảy ra một lần. Thái quá trong ứng phó khi các định chế hữu trách lạm dụng quyền tự do quyết định hoặc bị áp lực của thực tế kinh tế mà bất kể đến "hậu quả bất lường", điều không tính trước của các chánh sách. Hai thí dụ ở đây là quyền tự do thái quá về tiền tệ khiến việc kích thích kinh tế dẫn tới lạm phát và bong bóng đầu cơ hoặc gây ra bội chi ngân sách và vay mượn quá khả năng thanh toán. Còn áp lực của thực tế kinh tế có thể là hậu quả của thiên tai, chiến tranh, hay khủng hoảng tại Âu châu, và của hiện tượng tư doanh vay mượn quá nhiều nên sẽ lại thu vén để trả nợ thay vì bung tiền ra đầu tư. Sự thái quá kéo dài suốt ba năm và gây khủng hoảng trầm trọng về niềm tin, khiến các định chế hữu trách lật đật có phản ứng thu vén, giảm chi và trả nợ, cũng thái quá không kém. Thành thử, sau ba chục năm tin tưởng vào giá trị của tự do kinh tế rồi hoang mang về sự thái quá của thị trường, người ta đặt niềm tin vào sự can thiệp của nhà nước bằng các biện pháp tiền tệ hay ngân sách. Sau ba năm được quyền tự do quyết định, sự can thiệp cũng thái quá đó trong chách sách kinh tế của nhà nước dẫn tới phản ứng ngược, đó là... chặt tay nhà nước. Hoặc nổi loạn. Là chuyện năm 2011. Trong các quốc gia có dân chủ, phản ứng của người dân có nơi thể hiện là thùng phiếu khiến đối lập thắng thế và tranh luận bùng nổ giữa hai nhu cầu đều chính đáng là giảm chi và kích thích. Nhưng hình ảnh được phơi bày là sự lúng túng của các định chế cầm quyền và các chính khách trước hai nhu cầu mâu thuẫn đó. Rõ rệt nhất là chuyện xảy ra tại Hoa Kỳ, sau bầu cử năm 2010 và trước bầu cử 2012, với phản ứng thái quá của đảng Cộng Hoà và quán tính truyền thống của đảng Dân Chủ là vẫn tin rằng nhà nước mới là giải pháp. Nhu cầu tranh cử và sự mị dân của các chính sách - ở cả hai đảng - khiến người ta dễ tuyệt vọng về nền dân chủ. Và thay vì chờ đợi ngày bỏ phiếu, người ta biểu tình. Tính toán mị dân của các chính khách - bên đảng Dân Chủ - là khai thác chuyện biểu tình đó cho nhu cầu tranh cử. Nạn nhân của vụ nổi loạn này chính là nền dân chủ và người dân Mỹ. Thiểu số bị kết án – tài phiệt Wall Street hay 1% dân số của những kẻ giàu nhất nước – chính là thành phần đã chi tiền nhiều nhất cho các chính khách mị dân ưa nhân danh 99% còn lại! Nhưng không chỉ Hoa Kỳ mà tại các nước dân chủ khác, người dân cũng xuống đường nổi loạn làm nhiều chính quyền bị đổ, hoặc mất phiếu. Bị đổ như tại Hy Lạp, Tây Ban Nha, Ý và mất phiếu như tại Đức. Người ta hết tin tưởng vào giải pháp thần diệu của nền dân chủ và áp dụng luật rừng, là ném đá và đốt nhà. Nhờ có dân chủ, người dân nổi loạn không bị đàn áp, nhưng thực tế thì niềm tin dành cho các định chế hữu trách và thiểu số ở trên đã tuột xuống đất đen. Trong năm 2012, nhiều người sẽ thất cử, và đáng bị thất cử. Nhưng sau đó là gì thì chưa ai biết! Chuyện hy hữu là trong khi nền dân chủ tại các nước Âu-Mỹ cứ bị coi là phá sản – vì người dân hết phản ứng bằng lá phiếu mà bằng đá củ đậu ném vào cảnh sát và các chính khách lại thi đua mị dân – thì dân chủ lại là niềm hy vọng của quần chúng tại các nước độc tài! *** Năm 2011 mở ra với chuyện biểu tình tại Tunisie khiến chế độ độc tài của Tổng thống Zine el-Abidine Ben Ali sụp đổ. Biến cố bất ngờ ấy dẫn tới phản ứng cũng thái quá - trước tiên là của truyền thông Tây phương - về niềm tin vào làn sóng dân chủ bất khả phản hồi trong các nước Á Rập Hồi giáo. Sự thật chưa được như vậy vì Egypt đổi chủ, Tổng thống Hosni Mubarak phải từ nhiệm, mà chế độ quân phiệt chưa tan rã. Đến cuối năm dân chúng vẫn biểu tình bạo động và bị đàn áp. Trong cảnh tranh tối tranh sáng của đấu tranh dân chủ, lực lượng có tổ chức nhất là xu hướng Hồi giáo cực đoan, đã kín đáo thắng thế đằng sau nỗ lực biểu tình của những người đòi dân chủ. Sự thật cũng vẫn chưa được như vậy tại các nước Bắc Phi Trung Đông và cả khu vực Hồi giáo của Vịnh Ba Tư. Lãnh tụ Moammar Gaddaphi bị hạ sát và chế độ độc tài của ông sụp đổ nhờ sự can thiệp quân sự của Tây phương, mà dân chủ chưa thành hình và xứ Libya vẫn có nguy cơ khủng hoảng. Sự thật còn thê thảm hơn tại Syria hay Yemen, khi nạn đàn áp vẫn tiếp diễn với sự can dự của nhiều xứ khác. Các nước Hồi giáo như Saudi Arabia hay Iran cũng thế, chưa có dân chủ và chế độ - theo hệ phái Sunni hay Shia - còn phải nhìn vào khoảng trống tại Iraq do Hoa Kỳ để lại vào cuối năm! Mà tình hình Iraq mới là nơi minh diễn sự lạc quan thái quá của mọi người vào quy tắc dân chủ. Cả thế giới đả kích việc Hoa Kỳ can thiệp vào xứ này để lật đổ chế độ độc tài và hung đồ của lãnh tụ Saddam Hussein. Sau tám năm đại loạn, Hoa Kỳ triệt thoái khỏi Iraq, như Chính quyền Barack Obama chủ trương và tiến hành kịp thời trước mùa tranh cử của năm 2012. Lại cảnh "khi đồng minh tháo chạy". Ba ngày sau, là tuần qua, Iraq lại có loạn. Phe Shia thắng thế - với sự yểm trợ của Iran ở sau lưng - đã xông lên và đẩy hai lực lượng thiểu số của hệ phái Sunni và sắc tộc Kurd vào đường cùng. Phe thiểu số sẽ nổi loạn! Khủng bố tự sát đã tái diễn tại thủ đô Baghdad. Nền dân chủ mong manh tại Iraq có thể tiêu vong và chế độ Iran độc tài của hệ phái Shia sẽ thắng lớn ở xứ lân bang này khiến hai chế độ Sunni là Saudi Arabia và Turkey phải canh chừng. Hoặc can thiệp! Người ta cứ nghĩ rằng chỉ cần lật đổ ách độc tài là dân chúng nơi nơi sẽ bắt tay vào xây dựng dân chủ, cũng là một sự lạc quan thái quá. Sự lạc quan ấy cũng có thể giải thích kỳ vọng của nhiều người về những biến động tại Liên bang Nga sau cuộc bầu cử đầu tháng 12. Thành phần trung lưu khá giả đã biểu tình chống Thủ tướng Vladimir Putin, tố giác tội gian lận bầu cử năm nay và âm mưu tái tranh cử Tổng thống vào Tháng Ba năm tới. Nhiều nhân vật công thần hoặc có uy tín của chế độ Putin ra mặt chống đối, nguyên Chủ tịch Liên Xô là Mikhail Gorbachev còn kêu gọi Putin từ chức! Nhưng Putin vẫn nắm sao đằng chuôi, ngoài đảng Nga Thống Nhất của ông, ba chính đảng lớn nhất còn lại đều có chủ trương ủng hộ sự "đổi mới" của ông để canh tân xứ sở, theo màu sắc Nga. Và cả truyền thông lẫn quân đội và mật vụ Nga vẫn do Putin kiểm soát. Khái niệm dân chủ như chúng ta hiểu tại các nước Tây phương chỉ xuất hiện trong các cuộc biểu tình ở thành phố. Và không là chủ trương của các định chế hay nhân vật trong cuộc. Trung Quốc cũng vậy. Sau khi Ôn Châu của tỉnh Chiết Giang giã từ giấc mơ kinh tế thị trường vì tư doanh phá sản hàng loạt trong năm qua, đến cuối năm thì dân chúng Ô Khảm của tỉnh Quảng Đông nổi loạn và đánh đuổi chính quyền địa phương. Động loạn đã bùng nổ, đến hơn trăm ngàn vụ trong cả năm. Sự phá sản của những chánh sách thái quá khiến lạm phát và vỡ nợ lan rộng và gây phản ứng trong quần chúng. Nhưng chế độ vẫn thẳng tay tiêu diệt và dân chủ vẫn là chuyện cấm kỵ.... Khi tổng kết vào dịp cuối năm, người ta có thể thấy ra một nét chung là sự sụp đổ niềm tin vào các định chế hữu trách, có quyền. *** Năm 2011 là năm mất mùa của các niềm tin. Niềm tin vào cơ chế Âu châu thống nhất, vào nguyên tắc dân chủ và bầu cử tại Mỹ, vào khả năng giải quyết của các định chế chuyên môn và độc lập như ngân hàng trung ương, niềm tin vào sự thoả hiệp của các phe phái đối nghịch để xây dựng được một không gian sống chung trong ổn định như tại Iraq hoặc Libya, v.v... ngần ấy kỳ vọng đều chưa xuất hiện. Sự suy sụp niềm tin dẫn đến phản ứng nổi loạn. Năm 2011 là năm nổi loạn phổ biến và sẽ dẫn tới hoang mang trong năm 2012. Hoang mang vì chưa biết là sẽ xây dựng ra cái gì để thay thế. Và ai sẽ xây dựng? Sự hoang mang ấy mới là nguy cơ khủng hoảng đáng sợ nhất. Mười năm sau kỳ vọng về làn sóng dân chủ muôn màu, như tại Serbia, Georgia, Ukraine hay Kyrgyzstan, năm 2011 chính là sự thoái lui của trào lưu dân chủ. Trong khi ấy, các chế độ độc tài đều dư thủ đoạn cứu vãn quyền lực chính trị và đặc lợi kinh tế của họ. Nhìn từ các quốc gia có tự do, nếu kinh tế thị trường và chính trị dân chủ hết là giải pháp lý tưởng, người ta sẽ làm gì khi tiếp tục gây phản ứng thái quá? Gây loạn? Chính sách mị dân của xứ tự do, thủ đoạn đàn áp của chế độ độc tài và sự thiếu tổ chức của các phong dân chủ có thể là những biểu hiện đen tối nhất của năm 2011. Hương hoa nhài tại Tunisie vào đầu năm hay con én tại Miến Điện vào cuối năm chưa thật sự báo hiệu mùa Xuân 2012.[NXN]
Cuối năm, hãy đếm lại mấy cái dùi trống của Hoa Kỳ Cứ đến cuối năm, truyền thông báo chí Mỹ thường bình chọn biến cố đáng chú ý nhất, hoặc có ảnh hưởng nhất trong năm. Cột báo này xin đi ngược truyền thống dễ dãi ấy mà chọn một hồ sơ bị lãng quên nhất trong năm - dù có thể ảnh hưởng đến thời sự năm tới. Cũng là một cách kiểm chứng lại khả năng nhận xét của chúng ta, thay vì thụ động tiếp nhận thông tin đôi khi hời hợt, rồi sau cùng lại như dân Mỹ, hốt hoảng la trời "O My God"! Hồ sơ bị lãng quên ở đây là Cộng hoà Tiệp – Czech Republic. Nếu không có vụ cựu Tổng thống Václav Havel tạ thế vào cuối năm, người ta quên hẳn nhân vật vĩ đại này của thế giới. Và thật ra nhiều người Mỹ còn chẳng biết là Tiệp Khắc đã tự chia đôi từ năm 1993 thành Cộng hoà Tiệp và Slovakia. Lời phán xét này không vu hồ. Năm qua, một nữ Dân biểu Dân Chủ tại California còn hồn nhiên phát biểu rằng bà rất hài lòng khi thấy hai miền Nam Bắc của Việt Nam đã vui vẻ sống chung, dù miền Bắc vẫn còn chế độ Cộng sản và miền Nam tự do là đồng minh của Mỹ. Dân biểu Maxine Waters có khi đã quên mất biến cố 1975 và được dân chúng khu vực Los Angeles bầu lên để giải quyết những vấn đề kinh tế hay xã hội của họ dù bà ta có thể có những quyết định tầy trời cho các xứ khác mà không biết - và khỏi cần biết. "Vô phúc cho xứ nào cứ nhắm mắt trông chờ vào Hoa Kỳ mà không tự lo lấy thân"! Lãnh đạo Cộng hoà Tiệp có thể đã nghĩ như vậy - mà dân Mỹ cũng khỏi cần biết. Họ khỏi cần biết rằng đầu tháng 12 vừa qua, Tổng thống Dmitri Medvedev của Liên bang Nga đã cầm đầu một phái đoàn hùng hậu qua thăm xứ Tiệp trong hai ngày mùng tám mùng chín. Phái đoàn Nga tới thủ đô Praha hâm nóng quan hệ giữa hai nước qua ba dự án: 1) xây dựng hỏa xa cao tốc cho Tiệp để nối liền nước Nga với Đông Âu, 2) phát triển hệ thống trực thăng hỗn hợp giữa hai nước và, quan trọng nhất, 3) dự án xây lò nguyên tử trị giá 25 tỷ tại Temelin. Hồ sơ có vẻ kinh tế đó tất nhiên dễ bị lãng quên nếu người ta không nhìn thấy nhu cầu hâm nóng quan hệ giữa hai nước. Và một hồ sơ tầy trời khác. Từ đã lâu, Hoa Kỳ vận động việc đón nhận Cộng hoà Georgia và Ukraine vào Minh ước NATO, sau khi các nước này chuyển hóa sang chế độ dân chủ và muồn hội nhập vào Âu châu. Khi ấy, cả nước Mỹ đều nói đến cách mạng dân chủ muôn màu tại các quốc gia từng nằm trong quỹ đạo Liên Xô, như Serbia, Georgia, Ukraine, Kyrgyzstan.... Năm 2008, Chính quyền George W. Bush còn đề xướng kế hoạch phòng thủ chiến lược BMD tại Ba Lan và Cộng hoà Tiệp, hai thành viên mới của NATO. Đó là lá chắn chiến lược chống hỏa tiễn đạn đạo, với lý do chính thức là đón bắt hỏa tiễn có thể bắn từ Iran. Lý do thực tế, nhìn từ Moscow, là để ngăn sự bành trướng của Nga vào khu vực quỹ đạo truyền thống của Liên Xô. Chúng ta không quên là ngày tám Tháng Tám năm đó, Liên bang Nga đã đưa quân vào Georgia. Sau đấy còn khuynh đảo nội tình Ukraine là nơi mà một số dân chúng miền Đông vẫn thiên về nước Nga, còn hai lãnh tụ thân Tây phương, tác giả của cuộc cách mạng dân chủ màu da cam, thì chia rẽ và tạo cơ hội cho lãnh tụ thân Nga thắng thế, đương kim Tổng thống Viktor Yanukovych. Ngược với dư luận của nhiều người trong nước, hai Chính quyền Ba Lan và Tiệp đều ủng hộ kế hoạch BMD không phải nhờ lá chắn chiến lược mà vì lời cam kết - và sự hiện diện của binh lính Mỹ tại một trạm radar và một hệ thống hỏa tiễn do Hoa Kỳ thiết trí. Họ đã có kinh nghiệm xương máu với nước Nga ở quá gần! Nhưng họ thiếu kinh nghiệm với Hoa Kỳ. Sau khi nhậm chức, Tổng thống Barack Obama hủy bỏ lời cam kết đó và quăng dự án BMD vào bàn thương thuyết với Nga. Mục tiêu là để cải tiến quan hệ với Moscow hầu giải quyết hai ưu tiên của Mỹ: chiến trường Afghanistan và sự hung hăng của Iran. Xin đọc lại đoạn trên: kế hoạch BMD có lý do chính thức là phát giác và đón bắt hỏa tiễn Iran có thể bắn vào Âu châu mà thực tế là để ngăn ngừa ám khí của Nga. Bây giờ, Chính quyền Obama trông cậy vào Nga để can gián Iran và giúp Mỹ có đường tiếp vận cho chiến trường Afghanistan và hy sinh luôn việc phòng thủ hai đồng minh Âu châu là Ba Lan và Tiệp. Ba năm sau, là ngày nay, Liên bang Nga tiếp tục nhấn tới. Nga sẽ thiết trí hỏa tiễn chiến lược ngay tại Kaliningrad, giáp giới với Ba Lan, ngay dưới nách Cộng hoà Lithuania. Y như Trung Quốc, đến tận cùng, Nga vẫn bên vực Iran và cả Syria. Moscow còn nhá ra hơn 500 tỷ Mỹ kim dự trữ ngoại tệ để "cấp cứu" Âu châu trong khủng hoảng, nhân tiện ly gián quan hệ chiến lược giữa Hoa Kỳ và Âu Châu. Trong bối cảnh đó, kế hoạch BMD coi như chấm dứt và Cộng hoà Tiệp phải cải thiện quan hệ với Nga. Biến cố ấy đáng quan tâm hơn chúng ta nghĩ vì phản ảnh nhiều chuyện khác. Liên hiệp Âu châu có thể tan rã, hoặc ít nhất tê liệt trong nhiều năm với các ngân hàng bị sụp đổ và đồng Euro thành đồng sứt. Khi Ba Lan, nạn nhân của cả hai cường quốc lân bang là Nga lẫn Đức, mà còn yêu cầu Đức phải có thế mạnh hơn để cứu lấy Âu châu – chuyện xảy ra cuối năm sau 17 thượng đỉnh Âu châu – ta biết rằng có gì đó rất đảo điên đã xảy ra tại Âu châu. Trước đó, khi ông Václav Havel phải lên tiếng báo động về việc Hoa Kỳ có thể lại hy sinh đồng minh trong việc đổi chác với Liên bang Nga, ta thấy ra chuyện bất trắc của cả một khu vực bản lề của Âu châu. Nhưng ngần ấy chuyện lạ không để lại một ánh chớp trên truyền hình Mỹ. Người dân xứ này lo chuyện kinh tế và thất nghiệp, lãnh đạo thì chỉ thấy một ưu tiên là cuộc bầu cử và Quốc hội đánh nhau suốt năm mà chưa giải quyết được bài toán bội chi hay kích thích sản xuất, tăng hay giảm thuế! Chuyện Cộng hoà Tiệp là hồ sơ bị lãng quên trong năm phản ảnh một điều kinh hoàng hơn vậy: truyền thống đánh trống bỏ dùi của nước Mỹ! *** Ngày 11 Tháng Chín năm 1990, Tổng thống George H. W. Bush (ông Bush cha, Bush 41) dõng dạc tuyên bố trước Quốc hội sự hình thành của một "Trật tự Toàn cầu mới". Khi đó, Liên Xô đang trên đà tan rã, từ Iraq lãnh tụ Saddam Hussein vừa mở cuộc tấn công xứ Kuweit và lực lượng Taliban đã thành hình tại Afghanistan. Giấc mơ "Trật tự Toàn cầu" – New World Order – của lãnh đạo Mỹ, hoặc chuyện "Lịch sử Cáo chung" của trí thức Hoa Kỳ (học giả Francis Fukuyama) là một hài kịch. Nó chấm dứt ngày 11 Tháng Chín năm 2001, dưới thời Bush 43 với vụ khủng bố 9-11, và nó tan tành vào Tháng Tám năm 2008, khi Georgia ngang nghiên bị tấn công mà không ai nhúc nhích. Sau đó, Hoa Kỳ thời Obama lại còn nuôi giấc mơ khác, là cải thiện quan hệ với Liên bang Nga để giải quyết chuyện của mình, dù có phải hy sinh lời cam kết với các đồng minh. Kết quả? Hoa Kỳ rút khỏi Iraq tám năm sau khi xấn xổ bước vào đào xới lung tung. Ứng cử viên Obama có thêm đóa hoa trên bàn thờ tranh cử. Nhưng, chỉ một ngày sau khi lá cờ Mỹ được đưa ra khỏi thủ đô Baghdad, xứ này có loạn! Phe Shia và Iran ở phía sau thừa thắng xông lên, làm cho hai nhóm thiểu số là dân Sunni và Kurd đều tuyệt vọng. Kẻ có võ khí mà tuyệt vọng thì bạo động sẽ xảy ra, và thường dân lại chết oan. Kết quả? Một chuỗi quốc gia Đông Âu và Trung Âu được 20 năm tràn trề hy vọng hội nhập vào Âu châu để tìm sự thịnh vương và nương tựa vào Hoa Kỳ để được bảo vệ. Hy vọng đó tan loãng với vụ khủng hoảng Âu châu và lời hứa bảo vệ của Mỹ chỉ có giá trị cho một mùa tranh cử. Xứ Tiệp Khắc từng bị Đức quốc xã tấn công năm 1939, rồi bị Liên Xô thống trị từ sau Thế chiến II cho đến khi tan rã. Triển vọng hòa bình và thịnh vượng của các quốc gia này kéo dài được hai chục năm và nay họ đang nói chuyện phải quấy với một chế độ thực chất là hung đồ đã kê súng vào đầu họ. Vì Hoa Kỳ đang bận chuyện khác! Mười năm trước, cả thế giới nói đến cách mạng dân chủ muôn màu. Làn sóng cách mạng đó đã bị đẩy lui. Suốt năm nay, người ta cũng ngợi ca mùa Xuân Á Rập và làn sóng dân chủ trong thế giới Hồi giáo. Với một đống dùi trống ngổn ngang trong một năm tranh cử tại Hoa Kỳ, người ta nên hoài nghi khả năng hay ý chí thúc đẩy của nước Mỹ. Những gì đang xảy ra tại Egypt và Libya - chưa nói đến Syria hay Iran - khiến ta chẳng nên lạc quan, dù là vào một đầu năm mới. Dân chủ hay không là chuyện của người dân ở tại chỗ, chứ không thuộc trách nhiệm của lãnh đạo hay cử tri Mỹ.[NXN]
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()