HỒ MINH DŨNG
Dưới ngọn đèn một bóng chim qua / TCS
Tháng 11 năm 1993, tôi qua Mỹ định cư. Người bảo trợ thuê cho gia đình tôi một căn nhà trong khu chung cư ở đường Adams St, thành phố Midway city, Quận Cam, gần khu Phước Lộc Thọ. Khoảng một tuần sau, người đầu tiên trong giới văn nghệ sĩ đến thăm tôi, là anh Nguyễn Mộng Giác. Không biết lấy tin ở đâu, anh liên lạc với ông P.S. ponsor cho gia đình tôi để biết địa chỉ. Vài ngày sau, anh Định Nguyên tác giả tập thơ Quê Hương và truyện dài Đường Xương Trắng từ tầng lầu 2 xuống gõ cửa thăm tôi, mang theo một ống điếu thuốc lào.
Nghe anh Giác nói tôi mới qua chắc thèm thuốc lào. Sau đó, những người bạn văn nghệ từ xa liên tiếp gọi điện thoại chúc mừng tôi đến bến bờ tự do, như Trần Hoài Thư, Thái Tú Hạp, Luân Hoán, Hoàng Lộc... Họ đều nói anh Giác cho biết tin.
Vài tuần sau, anh Giác lái xe đến nhà chở tôi thăm Tòa Soạn nhật Báo người Việt, hồi ấy anh Nguyễn-Xuân Hoàng còn làm Tổng Thư Ký. Hai anh nhã ý muốn làm một cuộc phỏng vấn “bỏ túi” để tôi trình làng. Tôi xin khất lại từ từ rồi tính.
Thật ra, mới qua còn choáng váng trong cảnh đổi thay, lòng đang bồi hồi lo lắng, sự nghiệp văn chương trước 1975 chẳng là bao, biết nói gì đây. Sau khi từ giã báo Người Việt, anh Giác dẫn tôi đi bộ qua bên kia đường Moran St vào thăm tòa soạn Việt Báo. Chị Nhã Ca gặp tôi mừng lắm, liền gọi anh Trần Dạ Từ ra khoe “Anh coi người cùng xứ với em nè, vừa thoát khỏi địa ngục trần gian đấy!”. Khi ra về, chị Nhã Ca thấy tôi ốm o, có “nhắn nhủ” riêng: “Qua đây rồi, gắng ăn nhiều lên cho bằng anh Giác, hay ít ra cũng xấp xỉ nghe.” Liền sau, anh Giác chở tôi đến thăm nhà văn Mai Thảo. Lúc đó trời đã nhá nhem tối, Mai Thảo đang còn say, ngọn đèn điện vàng vọt vừa đủ soi gương mặt khắc khổ chằng chịt vết nhăn. Sau khi lắng nghe anh Giác giới thiệu, nhà văn Mai Thảo lấy bàn tay đập nhẹ mấy cái vào trán rồi nói: “Nhớ ra cậu rồi, còn thằng Lâm Hảo Dũng ở đâu?” Tôi thưa không biết tin. Rồi ông quay qua anh Giác “Rượu trên bàn rót uống đi…” Ông muốn nói thêm điều gì nữa, nhưng không kịp, men rượu đã dìm ông vào giấc ngủ ngon lành. Anh Giác kéo tay tôi ra, đóng khẽ cửa lại và đến quán Nguyễn Huệ ăn phở, rồi về.
Tháng 11 trời Cali đã sang thu lâu, những hàng cây phong và magnolia hai bên đường Bolsa đã rụng nhiều lá. Những thửa đất bên đường dâu tây thu hoạch xong bốc lên mùi ngai ngái như mùi bùn đất ở quê tôi.
Tuần kế tiếp, từ sáng sớm, anh lại mang xe đến nhà chở tôi lên khu Phước Lộc Thọ uống cà phê và nghe các cụ HO bàn chuyện lấp biển vá trời rồi đi thăm tòa soạn báo Thế Kỷ 21. Anh Lê Đình Điểu vui mừng tự tay pha cà phê cho tôi, còn Phạm Xuân Đài vào lục tặng tôi mấy chục số báo cũ để tôi đọc lúc “chưa nguôi nỗi buồn xa xứ”. Chưa hết, những tuần kế tiếp anh Giác lại đem tôi đến thăm nhiều nơi, khi thì họa sĩ Khánh Trường, khi thì nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh, Phan Tấn Hải. Khế Yêm… anh còn đem cả Nguyễn Bá Trạc, họa sĩ Nguyên Khai, nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam, nhà văn Trần Vũ ở Paris sang đến tệ xá tôi thăm. Toàn là những người tôi nghe danh đã lâu nay gặp lần đầu.
Truyện ngắn đầu tiên tôi viết ở hải ngoại đăng trên tạp chí Văn Học là do anh Giác thôi thúc, Tóm lại, anh Nguyễn Mộng Giác đã khơi trong tôi nguồn mạch cơ hồ như đã khô. Hơn 20 năm, từ ngày miền Nam mất, tôi coi con đường văn chương của đời mình khó mà cất đầu lên nổi.
Khu nhà tôi ở đến nhà anh Nguyễn Mộng Giác chỉ cách ba bốn dặm. Những hôm có việc gì vui, có bạn bè văn nghệ ở xa đến chơi anh đều gọi điện thoại tôi đến. Cũng nhờ thế mà tôi gặp và thăm được những người viết văn khả kính như Võ Phiến, Nghiêm Xuân Hồng, Tạ Chí Đại Trường, Trúc Chi, Ngự Thuyết, Hoàng Khởi Phong, Thạch Hãn, Cao Xuân Huy, Khánh Trường, Khế Yêm, anh chị Hồ Thành Đức & Bé Ký, Nguyễn Chí Kham, Thế Uyên, chị Bùi Bích Hà, Trần Mộng Tú, Đặng Hiền, An Phú Vang, Thường Quán, Phùng Nguyễn,… Cũng tại nhà anh, tôi còn gặp thêm nhiều người thân lâu ngày không gặp, như Huỳnh Hữu Ủy, Kinh Dương Vương, Họa Sĩ Đinh Cường, ông Lê Ngộ Châu… Đặc biệt, cũng tại ngôi nhà nầy, tôi gặp được người anh rất đỗi thân thương, anh đã cho tôi những kinh nghiệm vô cùng qúy giá về sự lương thiện của người cầm bút, đó là anh Đan Thanh Trần Ngọc Chất.
Những hôm vắng khách, anh Giác đem tôi xuống garage chứa đầy sách, bảo tôi thích quyển nào cứ lấy về đọc. Tôi xin anh mấy chục quyển tạp chí văn học ôm về, nghiên cứu xem mình “tụt hậu” đến cỡ nào.
Nhà anh Giác tôi gọi là “trạm”, trạm trưởng là một người vui vẻ, nhu hòa, hiếu khách, chịu đựng, và âm thầm sáng tác. Bà vợ của trạm trưởng, chị Diệu Chi, cũng như chồng, vui lòng khách đến vừa lòng khách đi.
Làng tôi, ngày xưa có người làm quan trong triều, bỏ tiền lưng ra cho xây một cái trạm bên cạnh đình làng, dưới tàn cây đa rậm rập. Cái trạm nầy là nơi nghỉ ngơi free cho khách bộ hành đi ngang qua làng. Từ ngày có cái trạm làng tôi nẩy sinh thêm tập tục là con dân trong làng ai đi xa làm ăn, đi ở lính, hay nghèo quá bỏ làng tha phương cầu thực, trước khi lên đường đều tập trung ở đây để bà con an ủi, chia tay, gởi theo lời cầu chúc tốt đẹp. Có những người mẹ, người cha sau năm 1975, đàn con đi chinh chiến không thấy về đều ra ngồi ở trạm từ sáng tinh mơ đến chạng vạng tối để nghe ngóng tin con.
Nay tôi đem một hình ảnh nơi quê cũ đã nhạt nhòa trong ký ức để ví von mối ân tình của anh chị Nguyễn Mộng Giác đối với anh chị em văn nghệ sĩ chúng tôi.
Cũng chính nơi cái “trạm” nầy, tôi chứng kiến một cảnh tượng thật bất ngờ, cảm động. Hôm đó, không biết vui chuyện gì anh chị Giác tổ chức một bữa tiệc trong nhà có cả mấy chục nghệ sĩ tham dự. Đang chén tạc chén thù ngon trớn, bỗng tôi nghe tiếng “vù” rồi một bóng người vút bay qua trước mắt tôi, rơi đúng vào nơi có âm thanh vang ra đó. Thì ra, Cao Xuân Huy với họa sĩ Nghiêu Đề cao hứng thách nhau uống hết mỗi người hai cốc lớn rượu hennessy VSOP. Tiếng “vù” đó phát ra là Nghiêu Đề chệnh choạng đứng dậy đưa cả hai cánh tay với mười ngón tay xòe xa vẫy vẫy giữa không trung rồi nghiêng người sắp té nhào xuống. Bóng sáng bay vút qua trước mắt tôi là anh NMG đang ngồi đàm đạo về ngõ ngách rối rắm trong sử liệu VN với Tạ Chí Đại Trường bàn bên, thì nhanh như mũi tên nhảy tới đỡ người bạn khỏi bị cú té đau. Bình sinh anh Giác là người to con, nặng nề, chậm chạp, thế mà lúc bạn cần một sự nâng đỡ, anh đã có một đường quyền ngoạn mục không thua gì trong truyện kiếm hiệp. Tấm lòng của anh là như thế. Một con người phúc hậu, nhân từ và xóa tan trong lòng rất giỏi những điều thế thái nhân
tình.
Hôm tôi đến từ giã anh để lên đường đi bang khác. Anh đem tôi ra khu vườn nhỏ sau nhà, buồn bã chỉ có tôi xem những chậu mai tứ thời và mãn đình hồng đang nở. Suốt buổi ấy, anh Giác không còn cười mím chi nữa. Anh nói tôi, đi xa nhớ giữ gìn sức khỏe, luôn gởi bài về cho Văn Học và có dịp qua Cali thăm anh em. Tôi hứa, nhưng lại đi một mạch mười sáu năm.
Một số người tôi quen biết qua anh Giác như nhà văn Mai Thảo, Nghiêm Xuân Hồng, Lê Đình Điểu, Cao Xuân Huy, Nghiêu Đề, Lê Ngộ Châu, Định Nguyên,…nay không còn nữa. Chị Nhã Ca khuyên tôi ăn thêm vào cho “xấp xỉ” anh Giác, tôi vẫn nghe theo, nhưng chẳng lên được pound nào.
Không biết đến ngày nào tôi mới được về Cali thăm lại con đường Adams ngày trước, nơi hai anh em chúng tôi từng đứng nhìn những loài chim sâu bay vòng vòng rồi chui vào những tàn lá cọ mất tăm.
Hồ Minh Dũng
Atlanta, GA 7.2012



